Thứ Ba, 20 tháng 7, 2010

GS. TRẦN LÂM BIỀN: ĐỪNG XOÁ SỔ CHÙA CỦA TỔ TIÊN


Người dân đi lễ chùa công đức nhà Chùa nhưng những người nắm tiền công đức ấy họ thao túng. Xã hội chỉ có thể tốt đẹp khi đạt trình độ “phú quý sinh lễ nghĩa” chứ hiện nay mới đạt mức “no hơi ấm cật dậm dật chân tay”; vì kiến thức chưa đạt được đến mức hiểu biết lễ nghĩa,…nên nó đã đẻ ra những kiến trúc trọc phú vô học, nhìn vào sự vô học lại tưởng là sự đẹp đẽ vì không có kiến thức. Nhất là tâm lý “thờ Phật thì ăn oản’ nên họ ăn nhiều quá; nhất là những điều đó chưa có sự quản lý. Nếu tiền công đức được quản lý chặt chẽ cũng giúp cho ngành văn hoá tránh được những tai hoạ, ung nhọt của những kiến trúc mới gắn với tín ngưỡng tôn giáo.- những điều trăn trở trên đây là một phần trong câu chuyên đối thoại xung quanh câu chuyện những ngôi chùa xây mới hiện nay của GS. TS Trần Lâm Biền với Trần Nga trong văn phòng nhỏ của ông trên tum tầng 3-Cục di sản văn hoá 51 Ngô Quyền.
GS. Trần Lâm Biền là một trong những nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam, luôn dành tâm sức cho công cuộc bảo tồn các di sản văn hoá của dân tộc; Ông có nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá dân gian, tín ngưỡng tôn giáo: Phật giáo và văn hoá dân tộc; Một con đường tiếp cận lịch sử, Diễn biến kiến trúc truyền thống của người Việt; Chùa Việt; Đồ thờ trong di tích của người Việt…

NGƯỜI TA NHẬP VÀO CHÙA NHỮNG THỨ KHÔNG PHẢI PHẬT
Theo giáo sư Phật giáo và những ngôi chùa có ảnh hưởng như thế nào đối với đời sống của Việt?
Đối với người Việt, đạo Phật rất được tôn trọng. Nhưng điều đáng nói ở đây là ở chỗ Đạo Phật chính đáng chứ không phải đạo Phật đã bị biến đổi đi. Trong tôn giáo tín ngưỡng, đối với người Việt chính đạo Mẫu lại là đạo bắt nguồn từ đời nguyên thuỷ từ mấy nghìn năm trở về trước. Chỉ đến đầu công nguyên cách đây 2000 năm, đạo Phật mới tới từ phương Nam tới, nó đáp ứng được yêu cầu của người Việt lúc đó. Bởi vì lúc đó đã có sự xâm lược, quấy nhiễu của phương Bắc. CHính người phương Bắc đã đưa đạo Nho, đạo Lão vào để dùng hệ tư tưởng ấy thống trị người Việt. Người Việt đã dùng đạo Phật như một sự đối trọng. Nên đi bên cạnh đạo thờ mẫu thì đạo Phật được người Việt quan tâm rất nhiều. Tuy nhiên mỗi thời đạo Phật phát triển khác nhau: Đạo Phật dung hoà với đạo Mẫu; Phật phái Thảo Đường- dung ổn giữa đạo Phật với đạo Nho, Phật Phái Trúc Lâm - một Phật phái chính trị….
Và hiện nay thì sao ạ? Người dân ngày càng chuộng lễ bái và lễ chùa hàng tháng có thể cho rằng đạo Phật đang rất thịnh ở nước ta không ạ?
Đến bây giờ, đạo Phật và ứng xử với Đạo Phật của con người không đi vào được bản chất tốt đẹp sâu xa của đạo nữa. Những điều tốt đẹp như Nhẫn, Nghiệp,…chúng ta thấy khó tìm thấy trong thế giới tu hành. Suy cho cùng trên bước đường đi đạo Phật ở nước ta có rất nhiều khủng hoảng, gắn với tiêu cực, vì sự hiểu biết về Hiếu, Nghĩa của đạo Phật không đến nơi đến chốn.
Chính vì không hiểu đến nơi đến chốn nên nay người ta nhập vào chùa nhiều thứ không phải Phật, mà rõ ràng những thứ đó nhiều khi gắn với mê tín dị đoan. Nên người ta đang sống phần nào nó vội vã, tuỳ tiện xây dựng lại nhiều ngôi chùa không theo truyền thống. Đạo Phật dạy con người đi tìm sự đơn sơ nhưng thuộc về bản chất tốt đẹp nhất.

ĐỪNG XOÁ SỔ CHÙA CỦA TỔ TIÊN
Gần đây, chùa Bái Đính nằm trong một quần thể du lịch ở Ninh Bình dù chưa hoàn thành nhưng đã giữ nhiều kỉ lục lớn nhất Đông Nam á: Tượng Phật bằng đồng; Chuông, 500 bức tượng La Hán,… Ông suy nghĩ như thế nào về ngôi chùa mới này?
Tôi thấy hiện chùa Bái Đính ở phía trong mới gọi là Bái Đính, còn chùa mới xây hoàn toàn không phải là Bái Đính. Nếu gọi là Bái Đính là hoàn toàn xoá sổ chùa của tổ tiên đấy. Điều thứ hai, trong kiến trúc ba tầng mái, như chúng ta thấy kiến trúc ba tầng mái của chùa Bút Pháp có tháp Cửu phẩm liên hoa – là nơi thế giới của người chết; nhưng chùa Bái Đính mới ấy lại co cái gọi là tam quan – ba tầng mái ở ngoài, khiến người ta đến với cái chết trước khi đến với Phật. Điều đó không chấp nhận được. Toà nhà ba tầng mái có nhiều ý nghĩa lắm, thường nó phải nằm ở phía sau như ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Sổ(Thanh Oai). Nhà Ba tầng mái có thể được đặt ở ngoài nhưng không gắn với chùa mà nó được gắn với tam tài như Hiển Lâm các trong Huế. Nơi đó gắn với Vua- Trời đât- Dân gian; chứ không gắn với tam phẩm của nhà Phật. Để như thế thì con người trước khi đến với Phật đã chết ở Phật tâm rồi. Thì họ chỉ còn đem cái rác rưởi của trần gian đến với Phật mà thôi. Cái chùa Bái Đính mới ấy là phi Phật và có tính chất không đi theo truyền thống, muốn xoá bỏ chùa của tổ tiên và mặt nào đó nó có tính khoe mẽ.
Giáo sư đánh giá ý nghĩa của ngôi chùa mới to lớn này ra sao?
Những ngôi chùa được xây to lớn nhiều khi nó có tính áp chế khiến con người khi bước vào ngôi chùa bị tâm hồn của mình hoà quyện với sự hoành tráng, bị hình thức nào đó nó làm người ta nhẹ cái tâm đi. Đứng trước ngôi chùa quá to lớn như Bái Đính mới hay Tây Thiên thì con người cảm thấy tâm hồn của mình bị teo đi, bé nhỏ trước áp lực tinh thần nào đó. Người ta không thấy được bản chất hoà vào thiên nhiên, hoà vào vũ trụ, hoà với thế gian của bản thân họ nữa mà chỉ còn tính quy phục mà thôi. Tính chất ấy không đúng với tinh thần của người Việt. Xu hướng xây dựng những ngôi chùa to lớn là khó có thể chấp nhận được trên dòng chảy truyền thống.
Nhưng hiện nay không phải chỉ ở Ninh Bình xây chùa mới Bái Đính mà đã có rất nhiều nơi, nhiều địa phương tổ chức xây chùa mới, nơi thì trên nền chùa cũ, nơi thì xây bên cạnh,… vậy những người xây phải chú ý gì đến kiến trúc của những ngôi chùa mới này?
Đi vào tín ngưỡng chúng ta phải đi theo truyền thống, phải VN chứ đừng để đến những ngôi chùa kiến trúc mới người ta thấy tây không phải tây, tàu không tàu nhưng nhất định không phải VN như một số ngôi chùa hiện tại đang được làm một cách tuỳ ý không thông qua bộ Văn hoá. Theo kiến trúc truyền thống, một ngôi chùa hay đền, đình phải đạt chuẩn thông tam giới: với mái tượng trưng cho tầng trời, với đất – thân của nó là nơi thần và người tiếp cận, cần được thông nhau. Vì thế nền đất để mộc, hoặc có lát phải để những mạch rộng hoặc dùng gạch bát thấm nước để thông âm dương; những nơi đặt ban thờ thì gầm ban thờ lộ đất… để âm dương không bị cách trở. Nhưng nay thì người ta lát hết, thậm chí lát cả gạch men hoa, gạch tầm thường tưởng là sang trọng nhưng rõ ràng rằng nó đã tạo nên một hịên tượng ngăn cách âm dương không đi theo dòng truyền thống.
Thậm chí người ta còn xây tầng cho chùa thì làm sao các vị thần linh cách biệt khỏi thế gian, khỏi thế giứoi âm mà đầy đủ âm dương hợp đất. Nên kiến trúc của đạo Phật gắn với kiến trúc truyền thống của người Việt có đặc điểm là nó phải hoà vào thiên nhiên, hoà vào trời đất đồng thời theo quan điểm của người Việt không đẩy thần linh lên thượng tầng như thế. Có thể chúng ta xây những ngôi chùa mới, nhưng những ngôi chùa ấy hãy ở những vùng đất mới không gắn với kiến trúc cổ truyền. Kiến trúc mới hãy ra đất mới không ai cấm xây dựng những ngôi chùa mới nhưng đừng đem những ngôi chùa lớn vào đất của chùa cũ. Bởi chùa cũ là tiếng nói của tổ tiên. Chúng ta không có quyền thay đổi kiến trúc một phần hoặc xây mới ở nơi truyền thống cũ ấy. Do sự không hiểu biết phân biệt giữa Phật với thần linh khác nên trong kiến trúc có sự lẫn lộn. Theo kiến trúc cũ, Phật điện là nơi cao nhất nhưng nay người ta xây mới nhiề khi nhà Tổ lại xây cao hơn Phật điện,.. hay Phật tiếp cận với chúng sinh lại biến điện Phật thành hậu Cung như chùa Láng là không thể chấp nhận được. Phật là nơi rộng cửa với chúng sinh nên điện Phật không bao giờ có hậu cung….
Vì sao lại nhất định phải giữ lại những ngôi chùa cũ bé nhỏ và xuống cấp?
Giá trị của ngôi chùa cổ truyền thực sự không nằm ở vật chất mà ở chỗ khác. Những dấu tích truyền thống chỉ nói riêng về niên đại của những ngôi chùa như ở HN, Bắc Ninh,…hay những ngôi chùa có di tích của đời Trần nằm dọc trên dải đất miền Trung Bộ mang tính chất như những tiền đồn, những ngôi chùa thời Mạc trên mặt bằng châu thổ, trung du, thế kỷ 17 thấy dấu tích ở Non Nước,… Rõ ràng bằng những di sản văn hoá chúng ta thấy tộc người chủ thể đi đến đâu để dấu tích lại tới đó. Điều đó quan trọng như thế nào! Chính những di sản văn hoá của tổ tiên để lại cho biết bước phát triển của cộng đồng dân tộc đi dần tới thống nhất như ngày nay một cách cực kỳ rõ ràng. Thế mà nay cứ phá cái cũ đi để xây những cái mới lên thì còn gì để chúng ta chứng minh những điều ấy. Cho dù dấu tích cũ đã mất nhưng vẫn còn dấu tích trong lòng đất thì chúng ta vẫn phải tôn trọng. Vì có tôn trọng quá khứ thì chúng ta mới biết vào tương lai. Nay xoá sổ những ngôi chùa mới trên nền đất cũ là không thể chấp nhận được. Dù nó tàn phai thì vẫn để đấy vì nó vẫn đang nói với chúng ta những thì thầm của tổ tiên.
CHÙA MỚI KHÔNG THEO KIẾN TRÚC TRUYỀN THỐNG LÀ PHÁ HOẠI BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC
Tuy nhiên, trong khi Bái Đính mới chưa hoàn thành nhưng khách tham quan đã đến rất đông trong một hai năm gần đây…
ở đây chúng ta phải nói rằng, khách tham quan thì cứ tham quan nhưng mà “bất tri bất trách”, chúng ta không trách được bởi trong thời gian qua sự hụt hẫng tinh thần qua thời chiến tranh trở nen rất nặng nề. Nay nay cứ có nơi nào để nó được giải toả tâm hồn là người ta sẽ đến. Người ta đến Bái Đính mới để ngợi ca sự to lớn về cái gì đó rất đời thường chứ không phải thờ đạo. Rõ ràng một khi họ đã hiểu biết thì vai trò của chùa gọi là Bái Đính ấy sẽ tàn phai. Người Việt Nam không chấp nhận sự to lớn một cách thái quá đâu, bởi sự khoe mẽ ấy, người Việt đi sâu vào cái tâm. Sự vĩ đại của nó là ở cái tâm thánh thiện chứ không phải hình thức. Cái hình thức đó làm mờ cái tâm. Khi họ phát triển trí tuệ cao hơn nữa thì họ sẽ nhận ra đó là sự sai lầm.
Xu hướng xây chùa mới to lớn, khang trang đang khá phổ biến hiện nay trong khi chưa có những quy định về kiến trúc cũng như việc xin cấp phép của bộ Văn hoá, điều này tiềm ẩn những nguy cơ gì?
Đó là một cảnh báo lớn là hiện tượng phá hoại truyền thống văn hoá dân tộc; đúng hơn là phá hoại bản sắc làm méo mó tâm hồn dân tộc. Một dân tộc có thiện tâm vô cùng cao nay lại chỉ quan tâm đến hình thức. Tôi xin nhắc lại là xây dựng chùa cao to mấy cũng được nhưng hãy để ra ngoài không gian kiến trúc của tổ tiên đã làm.
Phải chăng đã đến lúc nhận định việc xây dựng những ngôi chùa mới nằm ngoài sự quản lý của Bộ văn hoá?
Chuyện này không phải nằm ngoài sự quản lý của nghành văn hoá, mà ngành văn hoá nhiều khi đã không biết đến điều ấy. Đến khi biết được nó đã thành sự đã rồi. Như chùa Hoà Xá bên quận Long Biên vừa được xếp hạng thì đã để mất tượng và bỏ mặc tan nát, sát vách đó là một ngôi chùa mới được xây dựng lên với sự bề thế đời thường, xây tầng hẳn hoi. Như vậy trước đây những ngôi chùa mang vẻ đẹp văn hoá phi tôn giáo thì nay những ngôi chùa to lớn ấy chỉ mang tính chất tôn giáo mà thôi.

Thứ Ba, 13 tháng 7, 2010

THOÁT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH CẦN NHÀ LÃNH ĐẠO CÓ TẦM MỚI


Ngay khi Việt Nam (VN) vượt qua ngưỡng quốc gia nghèo đói, thu nhập thấp bước vào thế giới quốc gia thu nhập trung bình thì phải đối mặt với những thách thức mới đòi hỏi những nỗ lực và tầm nhìn của người lãnh đạo. Nguy cơ sát sườn của VN đó là "bẫy" thu nhập thu bình. GS.TS Kennichi Ohno,Viện Nghiên cứu Chính sách quốc gia Nhật Bản bày tỏ quan ngại về nguy cơ mắc bẫy của Việt Nam trước những thực trạng phát triển đang tồn tại. Tuy nhiên "nếu thay đổi quy trình hoạch định chính sách và có những quyết tâm chính trị, tầm nhìn mới, VN có thể tránh bẫy này".
Nguy cơ sập bẫy
Trần Nga: Ngày 23.12.2009, World Bank xác nhận Việt Nam đã bước vào khối các quốc gia có thu nhập trung bình. Ghi nhận sau 7 năm tăng trưởng, VN đã thoát khỏi danh sách các nước đói nghèo. Tuy nhiên ngay trong Hội nghị các nhà tài trợ ở HN bà Victoria Kwakwa - Giám đốc World Bank tại Việt Nam bày tỏ lo lắng: nếu không cẩn thận, Việt Nam sẽ rơi vào cái bẫy thu nhập trung bình. Thưa giáo sư, ông bình luận gì về cảnh báo này ?
Giáo Sư Kenichi Ohno: Theo đúng nghĩa, phát triển phải hình thành nhờ nâng cao chất lượng vốn con người hơn là nhờ may mắn vì có nguồn tài nguyên thiên nhiên hay có lợi thế vị trí địa lý để dễ dàng tiếp nhận hỗ trợ và đầu tư nước ngoài. Phụ thuộc vào những lợi thế không tự mình tạo ra, đất nước có thể tăng trưởng đến mức thu nhập thấp, trung bình hay cao với một chút nỗ lực nhưng rồi cuối cùng sẽ bị mắc kẹt ở mức thu nhập đó. Tình trạng này được gọi là bẫy phát triển. Trong tương lai VN có thể rơi vào bẫy thu nhập trung bình.
Nhìn lại bức tranh các nước đang phát triển vẫn đang chiếm đa phần các quốc gia trên thế giới, và cụ thể là các nước trong khối ASEAN, từ những năm '60 của thế kỷ trước Philippin đã có nền kinh tế phát triển rất khá, nhưng đến nay dường như được xem là "giậm chân tại chỗ” và quốc gia này đang bị coi là sập bẫy thu nhập trung bình...
Phần lớn các nước châu Mỹ La tinh vẫn ở mức thu nhập trung bình mặc dù họ đã sớm đạt được mức thu nhập tương đối cao vào thế kỷ 19. Trong khu vực ASEAN hiện nay có nhiều nước đang rơi vào bẫy thu nhập trung bình như Malaysia (GDP bình quân đầu người 7.750 USD năm 2009), Thái Lan (GDP bình quân đầu người 3.973USD năm 2009). Các nước này đang ở giai đoạn mà Việt Nam đang hướng tới và việc bước lên các nấc thang mới trở nên ngày càng khó khăn hơn. Khả năng tăng trưởng của Đông Á khác biệt rất nhiều cả về chiều sâu và tốc độ ngay cả khi so sánh giữa các nước được cho là "thành công": Đài Loan - Hàn Quốc (thành công lớn); Thái Lan - Malaysia (thành công trung bình); Philippin - Inđônêxia (ít thành công). Nhóm đầu đã bỏ lại khá xa nhóm hai và nhóm ba nếu xét về thu nhập và năng lực công nghiệp hoá.
mức khởi đầu cho công nghiệp hoá ở một mức rất thấp lại trải qua nhiều năm tháng chiến tranh, Việt Nam thực sự bước vào đổi mới kinh tế từ những năm 1990. Nhìn lại quá trình phát triển công nghiệp hoá trong thời gian 20 năm qua, GS đánh giá thực trạng của VN như thế nào?
Từ giữa những năm '80 đến những năm '90, kinh tế VN tăng trưởng rất nhanh nhờ tác động của cá cơ chế khuyến khích và ảnh hưởng tái phân bổ của việc tự do hoá các nguồn lực kinh tế nội địa . Tăng trưởng đã được củng cố bởi nhiều cơ hội thương mại cũng như những dòng vốn lớn đổ từ bên ngoài vào. Với tốc độ tăng trưởng 7,4% trong giai đoạn 1991-2009. Năm 1990 còn là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới với GDP 98 USD đến năm 2009 mức GDP đã lên 1.109 USD và được xếp vào hàng các quốc gia có thu nhập trung bình thấp theo cách xếp loại của WB. Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của VN và những nỗ lực cải cách trong một thập kỷ rưỡi vừa qua rất đang ghi nhận. Nhưng những thành quả mà Việt Nam đang có được ngày nay chủ yếu là do tác động của tự do hoá và các yếu tố bên ngoài đi kèm với hội nhập quốc tế chứ không phải do sức mạnh nội tại. Các doanh nghiệp trong nước vẫn còn thiếu sức cạnh tranh, các chính sách và các thể chế vẫn rất yếu kém so với chuẩn mực của các nước Đông Á. Các hoạt động công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến hàng hoá xuất khẩu vẫn chủ yếu do các công ty nước ngoài nắm giữ, trong khi giá trị mà người lao động và các công ty trong nước tạo ra là rất hạn chế. VN thậm chí chưa thực sự bắt đầu xây dựng công nghiệp hỗ trợ hoặc các liên kết công nghiệp...
Thiếu tầm nhìn và cơ chế hoạch định chính sách kém
Trong khi đó con đường công nghiệp hoá đang là sự lựa chọn của phát triển của Việt Nam ...
Vào thời điểm bắt đầu Công nghiệp hoá, hầu hết các nước Đông Á đều có chính phủ yếu kém. Năm 1959-1960, chế độ dân sự của Hàn Quốc được nhìn nhận là một thể chế tham nhũng và yếu kém, Thái Lan được đánh giá thấp. Nhưng trải qua thử thách, sai lầm và những bài học, kinh nghiệm và năng lực quản lý của Chính phủ các nước này được cải thiện rất nhiều. Từ góc nhìn này, có thể thấy việc xây dựng tầm nhìn công nghiệp của Việt Nam là cần thiết. VN đã có tầm nhìn dài hạn là trở thành nước công nghiệp hoá và hiện đại hoá vào năm 2020 tuy nhiên vấn đề lại thiếu các chiến lược và chương trình hành động và các thể chế phù hợp để theo đuổi thực hiện tầm nhìn này. Điều quan trọng là VN phải xây dựng sớm nhất có thể một lộ trình công nghiệp hoá rõ ràng cũng như kế hoạch hành động cụ thể, công bố và hướng dẫn cho dân chúng, nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sách về lộ trình đó. VN hiện chưa có một quy hoạch tổng thể về phát triển công nghiệp, nhiều câu hỏi chính sách quan trọng vẫn chưa được trả lời; VN không chỉ ra một cách rõ ràng cách thức mà VN muốn sử dụng để thúc đẩy các ngành công nghiệp phát triển...
Theo ông, thất bại của VN trong việc hoạch định các chiến lược và kế hoạch phát triển ngành hiệu quả do đâu?
Chủ yếu là do yếu kếm về cơ cấu trong quá trình hoạch định chính sách. Tôi chỉ nhấn mạnh hai vấn đề về quy trình và tổ chức có liên quan chặt chẽ với nhau và đây là nguyên nhân chính dẫn đến chủ nghĩa hình thức, thiếu sáng tạo và phản hồi nhanh trong quá trình hoạch định chính sách ở VN. Cụ thể, quy trình hoạch định chính sách thiếu sự tham gia của cộng đồng kinh doanh và thiếu sự phối hợp liên bộ khiến cho chính sách được thông qua kém hiệu quả thậm chí không thể triển khai được. Ở VN mặc dù tất cả văn bản chính sách đều có một bộ chủ quản và hàng loạt các bộ khác có liên quan trong vẫn chưa có cơ chế nào buộc các bộ này cùng phối hợp làm việc.
Cách làm việc kém hiệu quả này đã dẫn tới hàng loạt hiện tượng chảy máu chất xám, xuống cấp đạo đức trong giới công chức, và bế tắc trong giải quyết những vấn đề cấp thiết trong xã hội như lạm phát, ùn tắc giao thông,...?
Thiếu sự hướng dẫn rõ ràng từ phía chính phủ và cơ chế khuyến khích méo mó đối với các công chức chính phủ gây chảy máu chất xám. Cũng giống như nhiều quốc gia khác, hiện tượng xuống cấp trầm trọng về đạo đức và phẩm chất của các công chức chính phủ khiến cho người tài nhanh chóng rút lui sang những khu vực kinh tế khác. Chính phủ VN đang phải đương đầu với nhiều vấn đề cấp thiết: lạm phát, khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế, phát triển thị trường bất động sản bong bóng, chứng khoán ảo, hay ùn tắc giao thông- theo hình thức từ dưới lên mà không có đầu mối lãnh đạo và chịu trách nhiệm rõ ràng. Chế độ công quyền của VN đang tụt hậu rất xa so với những nền kinh tế thành công khác trong khu vực như Singapore, Malaysia, Thái Lan,... Cần lưu ý rằng sáng kiến cải cách này phải do các cơ quan cấp cao chứ không phải do các cơ quan cấp dưới đề xuất. Không một cơ chế quan liệu nào có thể tự mình thay đổi gốc rễ mà không có sự chỉ đạo quyết liệt từ một nhà lãnh đạo quyết đoán.
Làm thế nào để công nghiệp Việt Nam có thể cất cánh, thoát bẫy thu nhập trung bình, thưa giáo sư?
Việt Nam đang ở vị trí mà từ đây để tiến lên mức thu nhập cao hơn VN phải tăng cường tạo ra giá trị nội tại. Điều này đòi hỏi hành động phù hợp từ phía Chính phủ hơn là theo chính sách thị trường tự do nhằm định hướng và hỗ trợ sự năng động của khu vực tư nhân và tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Để tăng chất lượng chính sách, VN cần thay đổi quá trình hoạch định chính sách của mình bằng cách cải cách căn bản trong hệ thống hành chính công. Phạm vi và quy mô cải cách này phải được lựa chọn một cách thận trọng nhằm tối thiểu hoá năng lượng chính trị và xã hội để tiến hành thay đổi và tối đa hoá tác động tích cực của cải cách. Một mô hình lãnh đạo mới, một đội ngũ tham mưu trực tiếp tư vấn lãnh đạo cấp cao và một liên minh chiến lược với các đối tác quốc tế là những điểm chính cần phải ổôi rmới trong quá trình hoạch định chính sách công nghiệp của VN.

Thứ Tư, 7 tháng 7, 2010

DIỆT ĐẦU CƠ- THỊ TRƯỜNG BĐS SẼ BÌNH ỔN


Hiện tượng đầu cơ bất động sản đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của kinh tế. Giá thành nhà đất tăng cao ảnh hưởng tới việc giải phóng mặt bằng, khép cảnh cửa đối với doanh nghiệp cần thuê khu công nghiệp; thiếu đất xây dựng những công trình phúc lợi xã hội, cộng đồng; không giải quyết được vấn đề nhà ở cho hàng triệu người dân. Phát triển nóng và ảo, khi bong bóng bất động sản xì hơi, người dân đầu cơ, đầu tư tích tụ đất sẽ mất tài sản lớn,… Đó là một trong những phân tích của TS. Trần Du Lịch, nguyên viện trưởng viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Phó trưởng đoàn ĐBQH Tp HCM, Uỷ viên Uỷ Ban Kinh tế Quốc Hội về sự phát triển của thị trường bất động sản từ góc độ kinh tế cũng như trong vai trò là người đại biểu Nhân dân.
Bong bóng xì hơi – Người dân mất của
Ông đánh giá thế nào về tình hình giá cả trên thị trường bất động sản hiện nay, đặc biệt là ở các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh và Hà Nội?
T.S Trần Du Lịch: Ảo. Hoàn toàn ảo. Hiện nay thị trường bất động sản tạo một sức cầu ảo do sự rất yếu kém trong sử dụng các công cụ tài chính để điều tiết. Tôi ví dụ: những người đi mua chung cư không phải những người cần ở mà là mua để bán lại, mua nền nhà đất cũng là đầu cơ, còn những người thực sự có nhu cầu về nhà ở, đất ở không mua nổi. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy sau những đợt sốt cục bộ giá đất khu vực đó sẽ tăng lên một mức mới.
Thưa ông sau cơn sốt đất ảo tháng 5 – 6 vừa qua đã đẩy giá đất Hà Nội ở nhiều vùng lên một sàn giá mới. ông có cho rằng thị trường BĐS Hà Nội ngày càng khó kiểm soát và ngày càng diễn biến phức tạp không?
Tôi cho rằng đặt ra ngoài tầm kiểm soát thì không đúng lắm. Như¬ng thực sự thị trư¬ờng BĐS không chỉ ở HN mà ngay cả thành phố HCM đều có vấn đề. Nó là một thị trường không bình thư¬ờng vì yếu tố đầu cơ và tâm lý người Việt Nam là tâm lý tích tụ tài sản d¬ưới hình thức là đất đai, bất động sản. Giá bất động sản hiện nay đang ở trên trời, cần phải đưa xuống mặt đất.
Và điều này đứng từ góc độ kinh tế nó được đánh giá như thế nào thưa ông?
Đây là vấn đề trong kinh tế học đã cảnh báo: nếu để cho ngư¬ời dân tích tụ tài sản dư¬ới hình thức đất đai – bất động sản đó là hành vi phi kinh tế. Tác hại lớn nhất hiện nay là chúng ta đẩy giá đất VN vư¬ợt sức chịu đựng của nền kinh tế, quá bất hợp lý so với tổng sản phẩm nội địa. ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách về giá. Hiện tượng đầu cơ phá hoại toàn bộ chính sách công nghiệp hóa của chúng ta. Bởi vì với giá đất ngất ngưởng như vậy thì làm sao giải phóng mặt bằng để xây dựng khu công nghiệp, làm đường giao thông, làm sao có đất để xây dựng các công trình du lịch, thương mại...làm sao có thể mua nổi đất làm khu công nghiệp; làm đường, làm trường học, làm bệnh viện? Và đặc biệt, làm sao hàng triệu triệu người không có nhà, không có đất mua được nhà đất?
Khi tiền đọng vào thị trường BĐS quá nhiều, nó ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của nền kinh tế thưa ông?
Nguồn tiền đổ vào thị trường BĐS quá lớn, tồn đọng ở đấy không l¬ưu thông nó đẩy chỉ số ICO (tỷ lệ đồng vốn đầu tư bỏ ra để đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế) lên cao, thứ hai nó đẩy giá đất lên làm vấn đề phát triển hạ tầng, nhà ở xã hội cho dân,… bị ảnh hư¬ởng. Tôi cho rằng tình trạng đầu cơ đất đai đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế đất nước.
Đã có nhiều chuyên gia, phân tích thị trường BĐS Việt Nam và gọi sự phát triển của nó là bong bóng. Khi quả bóng này căng quá mức và xì hơi thì điều gì sẽ xảy ra thưa ông?
Thực sự bong bóng BĐS của Việt Nam khác các n¬ước khác, đa số ng¬ười đầu cơ hay tích tụ¬ đất chủ yếu là tự tích tụ tài sản của họ, trong đó vốn vay ngân hàng, tín dụng chỉ có một phần. Nên nếu thị tr¬ường có xì hơi thì tài sản của ng¬ười dân bị mất đi mà thôi chứ nền kinh tế không đổ vỡ nh¬ư thị trường chưng khoán hay thị trường bất động sản các nước khác. Vì vậy tôi cho rằng nếu bong bóng bất động sản xì hơi thì nó không có tác động hay ảnh h¬ởng lớn đối với nền kinh tế vĩ mô. Hiện tượng đầu tư vào nhà chung cư, đất đai bây giờ giống như “sốt” chứng khoán năm 2008, nghĩa là theo phong trào, rất nguy hiểm. Một số người lúc đầu sẽ hưởng lợi nhưng những người sau đó sẽ lãnh hậu quả.
Giá đất lên theo ngòi bút của nhà quy hoạch
Có nhiều ý kiến cho rằng một trong những nguyên nhân gây rối loạn thị trường BĐS HN vừa qua là do sự tắc trách của Bộ Xây dựng và thành phố Hà Nội, đã thiếu những cảnh báo và thông tin minh bạch khi công bố Đồ án Quy hoạch Hà Nội mới. Họ có thực sự đáng trách như vậy không thưa ông?
Hiện nay thị trư¬ờng bất động sản nó biến đổi theo ngòi bút của nhà quy hoạch. Tôi đã cảnh báo vấn đề này trước Quốc hội rồi. Chúng ta biết giá đất trên thị trường đi theo bản vẽ của nhà quy hoạch. Nừu mục tiêu sử dụng đất là gì, quy hoạch làm cáI gì thì giá theo đó mà định mà tăng, nếu quy hoạch làm công viên thì giá chuyển nhượng khác, nếu quy hoạch làm đô thị, nhà ở thì giá khác, làm khu hành chính thì giá khác,… Nên rất cần cẩn trọng trong vấn đề quy hoạch, công bố quy hoạch và công bố tính khả thi của nó.
Thị trường Bất động sản dường như đang thiếu vắng nhạc trưởng, theo ông, vị trí vai trò chủ chốt điều khiến thị trường BĐS đang ở đâu?
Bộ Xây dựng có một Cục quản lý thị trường BĐS… như¬ng tôi cho là phải có sự kết hợp giữa cơ quan quản lý địa phư¬ơng với cơ quan quản lý trung ư¬ơng. Chúng ta không nên chạy theo giá thị tr¬ường khi định giá đất. Cần sử dụng các công cụ tài chính để điều tiết với từng trường hợp, như¬ trong việc bỏ đất hoang thì xử lí nh¬ư thế nào? Theo luật đất đai ch¬a biết xử lí ai cả. Một người có nhiều đất hay không không phảI là điều quan trọng mà quan trọng là đất đó để làm gì, nếu để đất hoang thì phải đánh thuế rất nặng. Tôi thấy HN tuy giá đất rất cao nhưng nhà bỏ hoang thì đầy rầy, và đó là sự lãng phí, phải đánh thuế vào đó.
Theo ông, hiện nay Chính phủ cần thực hiện ngay giải pháp gì để điều chỉnh thị trường bất động sản?
Để giải quyết vấn đề một cách căn cơ, tôi đề nghị Nhà nư¬ớc phải sử dụng những công cụ gián tiếp như¬ những chính sách về thuế, về tài chính trong vấn đề bỏ đất hoang, đầu cơ,… những vấn đề về tính khả thi của quy hoạch cũng như¬ đảm bảo tính khả thi của quy hoạch. Còn cứ để tình trạng này chúng ta không thể phát triển lành mạnh được.
Nổi lên hiện nay là hai bất cập của luật thuế. Ví dụ như Pháp lệnh về Thuế nhà đất (ban hành năm 1992 và sửa năm 1994) là đánh vào đất nhưng chưa đánh vào nhà; chưa kể chưa tính vào diện tích, chưa tính vào giá trị. Đáng lý ra một cái nhà giá trị 1 tỉ thì đánh thuế khác, nhà 3 tỉ đánh thuế khác. Vấn đề đặt ra như các nước là mua cái nhà 3 tỉ, anh xem thu nhập của anh có đủ đóng thuế với cái nhà 3 tỉ hay không? Cũng giống như vấn đề mua xe hơi vậy, không phải vấn đề là tiền mua mà là sử dụng xe hơi khấu hao hằng năm mới là quan trọng. Hiện nay chúng ta không làm. Và bất cập ở chỗ: biệt thự diện tích 1.000m2, giá trị 2 - 3 triệu USD mà đóng thuế mỗi m2 có bằng 2 ký lúa mỗi năm, thì đấy là vấn đề. Cái thứ hai, tôi nói từ rất lâu rồi, dự án được giao, xây dựng xong nhưng không quy định thời hạn hoàn thành dự án đó, thành ra nền nhà bỏ hoang. Người ta làm hạ tầng cứ mua đi bán lại nền nhà và cứ bỏ hoang, để đó chờ tăng giá. Cái này phải kiến nghị làm sao người mua cái nền nhà đó không kỳ vọng gì nó lên giá bằng cái thuế người ta phải đóng. Lúc đó người ta phải bán. Mọi người không đầu cơ thì lúc đó cung - cầu trở lại bình thường.
TRẦN NGA thực hiện