Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

Réhahn Croquevielle: Việt Nam nơi cuộc sống là đây

Nhiếp ảnh gia của những cụ già nước Việt

ẬP vào mắt tôi là ba bức ảnh! Chân dung một bà lão người Mông, nụ cười trong đôi mắt nhiều nếp nhăn sáng bừng bức ảnh, đôi bàn tay một màu xanh chàm, một nâu sạm cũng nhiều nếp nhăn như khuôn mặt, thô rám, che miệng. Thung lũng ruộng bậc thang xanh vàng trải thảm trong ánh sáng vừa rực rỡ, vừa huyền ảo - hình như thung lũng Mường Hoa (Sa Pa). Những gương mặt trẻ thơ lấm lem, ánh mắt vui tươi lạc quan đẹp như thiên thần trong những bộ quần áo tả tơi, nước mũi quệt ngang má... Tay bấm nhanh bàn phím vô thức, tôi còm cho người chia sẻ ảnh - tên một người nước ngoài “Sa Pa phải không?” -”Đúng rồi, đường xuống Lao Chải”.

Những bức hình thật kì diệu: Xúc động mạnh, chạm vào nỗi nhớ Sa Pa, một nỗi nhớ ma mị về miền đất trong lành, tinh khiết luôn tách ta ra khỏi cuộc sống giành giật thường nhật nơi phố thị mỗi khi bước vào. Sao anh ấy có thể chụp được những bức ảnh xuất thần như vậy, sao anh ấy có thể nhận thấy đôi bàn tay nhuộm lá chàm xanh, đầy nếp nhăn phủ bóng thời gian và ánh mắt của mế người Dao Đỏ đẹp đến vậy... Những bức hình và mỗi câu hỏi “sao có thể” ấy cứ quấn trong đầu cả buổi, khiến tôi chốc chốc lại mở lại những tấm ảnh xem. Nhiều thời gian sau đó, đôi mắt, bàn tay, khuôn mặt, những nếp nhăn, nụ cười... giấu sau đôi bàn tay thô rám vẫn như trước mắt tôi khi nghe đâu đó nhắc đến Sa Pa, người Mông, miền núi phía Bắc... 
Tác giả những bức ảnh là Réhahn C, một người  “sinh ra và lớn lên ở nước Pháp, tôi yêu Tổ quốc tôi nhưng ở đây, Việt Nam tôi mới thấy mình thực sự sống, một cuộc sống tự do và ý nghĩa.”  Năm 2007, Réhahn đến Hội An thăm hai em bé gái trong Hội từ thiện mà anh tham gia tài trợ, anh đã thốt lên “Cuộc sống đích thực là ở đây” sau một thời gian ngắn ngủi ở lại. Bốn năm sau đó, từ bỏ công ty in ấn ở Pháp, anh về Hội An mở cửa hàng bán kem với bạn và thực hiện đam mê chụp ảnh với những chuyến đi rong ruổi tìm kiếm những gương mặt đặc biệt Việt Nam.
Sau ba năm, một nhiếp ảnh gia không qua trường lớp đào tạo bài bản, Réhahn sở hữu hơn 145.000 bức ảnh chụp chân dung, phong cảnh Việt Nam, mở hai phòng trưng bày ảnh, xuất bản một cuốn sách song ngữ Pháp-Việt “VIETNAM, MOSAIC OF CONTRASTS - Việt Nam những mảnh ghép tương phản” phát hành 29 nước trên thế giới trong năm 2014, với hơn một trăm bức ảnh chân dung trong đó, khiến bất cứ một nhiếp ảnh gia nổi tiếng nào cũng không tránh khỏi cảm giác ghen tị, thầm thốt lên “anh ta thật tài tình và may mắn”, còn Réhahn thấy thật hạnh phúc khi luôn nhận được những tin nhắn: “Này Réhahn, chúng tôi định sang Lào để thực hiện dự án nhiếp ảnh phong cảnh và con người, nhưng khi xem xong sách VIETNAM, MOSAIC OF CONTRASTS của anh, chúng tôi đổi điểm đến Việt Nam rồi, hẹn gặp anh nhé”.... “Thật kỳ diệu, Việt Nam là một thiên đường, tôi không thể đợi đến tháng 9 mới đi du lịch được, tháng sau tôi sẽ đi và tới Việt Nam.”....
Hàng trăm bức ảnh Việt Nam của anh được đặt mua, đăng tải độc quyền trên những tạp chí hàng đầu thế giới của Mỹ, Anh, Pháp,... như National Geographic, Los Angeles Times, New York Times, GEO. fr... Trong năm 2014, anh được mời thực hiện nhiều triển lãm ảnh Việt Nam ở nhiều quốc gia: Việt Nam, Pháp, Italia, Canada, Ireland. Tên tuổi của anh được gắn với những nhiếp ảnh gia hàng đầu thế giới như Steve McCurry, Jimmy Nelsson, Lee Jeffries... nhờ những tấm hình chân dung đời thường nghèo khó, lam lũ nhưng sáng trong và lạc quan như những thiên thần trong những vùng thiên nhiên hoang sơ nông thôn, miền núi Việt Nam.

Réhahn là một “ông bầu” tình cờ đã đưa dàn “người mẫu ảnh” cụ bà, cụ ông Việt Nam: mế già Dao đỏ, H’Mông, M’nông, bà Xong,.... nổi tiếng khắp thế giới qua những bức ảnh chân dung xuất thần, với đôi mắt ánh niềm vui, khuôn mặt và đôi bàn tay thô ráp, nhiều nếp nhăn của những cuộc đời lam lũ. Réhahn đã mang đến thế giới một hình ảnh Việt Nam rất khác với những gì người nước ngoài, thậm chí cả người Việt Nam vẫn thường thấy, thường nghe thấy, hoặc đang lãng quên mỗi ngày ở nơi thành thị hôm nay.
Anh đi khắp từ Nam ra Bắc, từ thành phố đến vùng nông thôn, nhưng những điểm dừng lâu nhất là những vùng cao miền núi.
Mỗi chuyến đi thường kéo dài nhiều ngày, điểm đến thường là cả vùng văn hóa địa lí: Bắc, Trung, Nam, tới những miền đất xa xôi, nơi những người Việt Nam nghèo khổ sinh sống, nơi những cảnh đẹp hoang dã nổi tiếng của Việt Nam. Réhahn có lẽ đi nhiều vùng ở Việt Nam nhiều hơn bất cứ một người Việt Nam nào ở độ tuổi 35 như anh. 
Chuyến đi hai nghìn mốt ki lô mét trong 15 ngày vào tháng 9 năm 2013 bằng xe máy tới vùng núi phía Bắc là một chuyến đi nhiều ấn tượng cùng thành công bất ngờ với anh. Từ Hà Nội, đi Bắc Sơn, Ba Bể, Đồng Văn, Sa Pa, Hà Giang, Mù Cang Chải,.. ngày nào cũng miệt mài đi và chụp, đi và chụp từ lúc bình minh tới hoàng hôn, anh có được hơn 5000 tấm ảnh ưng ý sau hành trình. Có những bức chụp sau cả ngày, đêm chờ đợi - Bình minh ở Đồng Văn, có bức chụp trong cả tiếng đồng hồ, có những bức chỉ mất một giây - Người đàn ông hút thuốc lào ở chợ Bắc Hà, bức hình đầu tiên của anh đăng trên tạp chí National Geographic cuối năm 2013. Và rất nhiều bức ảnh trong số này đã dẫn đầu lượt bình chọn đẹp nhất, yêu thích nhất trên các trang tạp chí ảnh hàng đầu thế giới như National Geographic, Photo Manila Global, BTPC,... vượt qua hàng nghìn bức ảnh chân dung, phong cảnh đặc sắc khắp nơi thế giới.


Sống cùng nhân vật
 Nổi bật trong gia tài hơn 145.000 bức ảnh Việt Nam, có đến hơn 80% là ảnh chân dung các cụ ông, cụ bà, trẻ nhỏ; còn lại là ảnh phong cảnh. Dù nghèo khó, dù già nua và cả cuộc đời lam lũ, vất vả mưu sinh hằn lên những nếp nhăn vô số trên khuôn mặt, thì những chân dung trong những bức ảnh của anh đều đang lạc quan, vui vẻ, một niềm vui vẻ thực sự ánh lên trong đôi mắt; và người già và trẻ thơ thật là giống nhau ở điểm lạc quan này.
Réhahn có nhiều người bạn “mẫu ảnh” khắp ba miền, từ cụ già Hà Nhì đến em gái M’nông nhỏ, đặc biệt các cụ hàng xóm ở Hội An. “Tôi là người thích la cà, trò chuyện và chia sẻ. Những câu chuyện đằng sau những bức ảnh đôi khi tôi thích hơn chính bức ảnh đó. Tôi nghĩ tôi may mắn vì sống ở Việt Nam, có nhiều thời gian đi du lịch và gặp gỡ những con người tuyệt vời như vậy. Trong năm phút sẽ chẳng bao giờ hứa hẹn một bức hình đẹp, thời gian là một bí mật của tôi. Người Việt Nam thật dễ gần, chỉ cần bạn mỉm cười với họ thì cánh tay sẽ rộng mở đón bạn”. Nắm được bí quyết này, cộng với vốn tiếng Việt chút ít. Réhahn luôn chiếm được cảm tình yêu mến của các “mẫu ảnh”.

Khi chiếc xe máy của anh rè rè vào bản, những đứa trẻ con chạy biến thật nhanh, nhưng chỉ năm phút sau, chúng lại gần, và cuộc trò chuyện bắt đầu. Trẻ em thật dễ vui tươi. “Tôi thích những người già, họ toát lên vẻ thông thái và cuộc đời của họ thể hiện trên khuôn mặt. Khuôn mặt như một thư viện cuộc đời. Người già thường có nhiều nếp nhăn và mỗi nếp nhăn lại kể một câu chuyện. Bạn có thể đoán được họ giàu hay nghèo, họ bao nhiêu  tuổi, họ có làm nghề nông hay không. Hầu hết tôi gặp đều là những người già nghèo khó nhưng họ còn cười nhiều hơn cả con trẻ.
 
Có những khi tôi gặp và chụp ảnh họ cả tiếng đồng hồ nhưng lúc nào cũng thấy họ cười. Đôi khi tôi cảm thấy họ như trẻ con vậy. Ngay cả khi đã 80 tuổi thì sự hồn nhiên vẫn là một phần trong con người họ.” - Réhahn nói, và cười, nụ cười của anh cũng thật giống “mẫu ảnh” cụ Xong nổi tiếng của anh. Cụ Xong là mẫu ảnh trong bức chân dung anh chọn làm ảnh bìa cuốn sách “Việt Nam những mảnh ghép tương phản”.

Bức ảnh đã chụp từ ba năm trước, cụ lúc đó 73 tuổi. Gần cả cuộc đời cụ làm nghề chèo ghe cho khách du lịch dọc sông Hoài ở Hội An.  Ngay khi đăng bức ảnh này lên facebook, bức chân dung cụ Xong nhanh chóng đạt hàng nghìn lượt like và được bình chọn là bức ảnh được khán giả yêu thích nhất trên trang bình chọn ảnh trực tuyến.
Theo Réhahn, bức ảnh này là yếu tố chính tạo nên sự thành công của cuốn sách. Nụ cười, những nếp nhăn trên đôi bàn tay và gương mặt bà là những yếu tố làm cho bức hình trở nên đặc biệt. Vẻ hồn hậu, thân thiện, lam lũ của bà toát lên sự vui tươi của cuộc đời trong ánh mắt.

Giờ đây cụ ông Xong rất tự hào vì vợ ông là một người nổi tiếng, xuất hiện trên bìa sách, trên báo, mạng xã hội, mọi người Việt Nam và khắp nơi trên thế giới đều biết đến bà lão vợ ông, người có khuôn mặt vô số nếp nhăn, sần sì khắc họa thời gian nhưng đôi mắt xuất thần ánh lạc quan cười tươi dù miệng che giấu sau bàn tay ấy.

“Hồi tháng 9, tôi thực hiện một triển lãm lớn với tựa đề Một Việt Nam tại Paris với 5000 khách mời, bức ảnh bà Xong này được in thành poster lớn và xuất hiện trên khắp báo chí của Pháp, bà ấy còn nổi tiếng hơn cả tôi”. - Réhahn nói. Gần cả cuộc đời cụ, lần đầu tiên có một anh thanh niên trai trẻ hỏi cụ có “ước mơ gì?” và gần cả cuộc đời chèo thuyền, cho đến tuổi thất thập cổ lai hy, cụ bà Xong chỉ “mong ước mua được một chiếc ghe mới để chở khách cho an toàn”. Từ số tiền bán bức ảnh và bán sách, Réhahn đã mua tặng người bạn vong niên -  người luôn im lặng bên anh, đưa anh đi loanh quanh sông Hoài mỗi khi căng thẳng, buồn rầu, một chiếc ghe gỗ mới.

Hầu hết các mẫu ảnh, nhất là các cụ già đều trở thành những người bạn của anh. Réhahn thường trở lại thăm họ, tặng ảnh, tặng sách, chia sẻ nhuận bút, thành công và chia sẻ cả những ước mơ.

Trong khi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch bận rộn cho đến tháng 8 tìm một gương mặt đại sứ du lịch Việt Nam, và đại sứ du lịch Việt Nam trong nước vẫn chưa có gương mặt nào cho năm 2014 thì Réhahn chính là một “đại sứ du lịch Việt Nam” tiêu biểu nhất trong năm qua, đã mang đến thế giới một hình ảnh Việt Nam phong cảnh - con người tuyệt đẹp, những “bức ảnh hơn ngàn lời nói” trong niềm hân hoan hạnh phúc của người nghệ sĩ: “Tôi rất may mắn, tất cả các triển lãm vừa qua đều thành công. Tôi nhận được rất nhiều phản hồi, bình luận tốt đẹp và mọi người khi xem xong triển lãm đều muốn khám phá Việt Nam. Và đó chính là điều tôi mong muốn”. - Còn kế hoạch cho năm mới ư? “Năm tới, tôi sẽ tới các lễ hội ảnh lớn ở  New York, Toronto, Cuba, Bỉ, Pháp để giới thiệu Việt Nam. Tôi cũng sẽ đi tiếp tới những vùng cao nguyên Trung bộ, vùng đồng bằng Mekong, tôi vẫn còn nhiều nơi chưa tới!”.
Với Việt Nam, Réhahn luôn có một tình yêu đẹp, đẹp hơn cả những bức ảnh của anh.

Bài đăng Báo Văn Nghệ số 1-2/2015
và http://vannghetre.com.vn/vi/quoc-te.nd171/rehahn-croquevielle-viet-nam-noi-cuoc-song-la-day.i2778.html

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Bố tử tù Nguyễn Văn Chưởng: Xin đừng để người dân sợ... thời bình



Lời blogger: Trên blog này tôi thường chỉ lưu giữ những bài viết đã đăng báo của mình, như một kho lưu trữ riêng. Rất hiếm, chỉ khoảng một hai bài tôi link của tác giả khác, trước đây là bài viết về em Phương Uyên, cảm kích trước lòng nhiệt thành tuổi trẻ của em mà đăng; và dưới đây là vì cảm kích trắc ẩn, vì nhiệt tâm của chị đồng nghiệp trước số phận một con người. Ngày cuối năm đến, cũng là ngày nhìn lại phía sau và suy nghĩ về phía trước. Mong rằng điều kỳ diệu sẽ xảy ra với sự thật!
(Minh Anh)
         
          Thời điểm cuối năm đang đến gần, nhiều người đang rộn rã, mong chờ những giây phút đoàn tụ cùng gia đình. Nhưng có một người mẹ, người cha đang sợ hãi đếm từng giờ trôi qua. Bởi cuối tháng 12/2014, con họ -  Nguyễn Văn Chưởng sẽ phải chịu án tử hình (oan ?!). Trong những ngày qua báo chí, truyền thông đã đề cập nhiều đến vụ trọng án này (bên cạnh vụ trọng án của Hồ Duy Hải). Báo chí cũng đã nêu lên các vấn đề cần được làm sáng tỏ trong hai vụ trọng án này. Sau đây, chúng tôi chủ yếu xin đề cập đến câu chuyện về nỗi lòng của cha mẹ tử tù Nguyễn Văn Chưởng, trong những ngày cuối cùng tiễn biệt con.

1. Đếm ngày để... chôn con
          Cuối năm, trời rét buốt. Tôi bận túi bụi với công việc nghiên cứu nên không có thời gian quan tâm đến việc khác. Bỗng nhiên, một hôm tôi lướt đọc một lượt các tờ báo, các trang web thì thấy hàng loạt bài viết về tử tù Nguyễn Văn Chưởng. Mắt tôi cay xè. Tôi bắt đầu quay cuồng với hình ảnh bố mẹ Chưởng, những ngày giá rét, họ đã tọa thiền ngoài vườn hoa, đeo tấm biển to tướng kêu oan cho con mình; những tập đơn kêu oan cao chất ngất của họ; đôi tay nhăn nheo vái lạy trong tiếng nấc của bố Chưởng - một cựu chiến binh (bố tôi cũng là cựu chiến binh)... Rất chéo ngoe, tôi bắt đầu cảm thấy mình có lỗi. Tôi bắt đầu lục vấn mình. Tôi làm báo. Tại sao tôi im lặng lúc này ? Trước đây, tôi đã từng phanh phui nhiều vụ việc tương tự, tuy chưa có vụ án tử hình nhưng có án tù chung thân. Tôi cũng đã từng nhiều lần gặp nguy hiểm nhưng cuối cùng tôi và những nạn nhân kia vẫn vượt qua. Bởi vì, chúng tôi có niềm tin vào bản thân, vào lẽ phải, vào một số đồng nghiệp, Tổng biên tập và một số lãnh đạo cao cấp có lương tri.
          Tôi bắt đầu thức trắng đêm. Đêm thứ nhất, đếm thứ hai, đếm thứ ba... Tôi gọi điện đi khắp nơi, nhờ người tìm kiếm địa chỉ gia đình nhà tử tù Nguyễn Văn Chưởng. Tôi tìm hiểu hồ sơ về vụ án và trao đổi với một số đồng nghiệp, chính trị gia, chuyên gia... có liên quan.
          Giữa những đêm rét buốt ngực, tôi ôm con vào lòng và tự hỏi về... mẹ Chưởng: Liệu tám năm qua bà ấy có được giấc ngủ nào yên ổn không ? Hơn hai nghìn đêm qua bà ấy đã bao lần cầu mong được ôm đứa con tội nghiệp (oan khiên ?!) vào lòng ? Hơn hai nghìn đêm qua bà ấy đã khóc bao nhiêu lần ?... Và rồi tôi đã quyết định gọi điện cho bà ấy. Tôi tự giới thiệu mình rồi, lắng nghe bà ấy nói. Giọng bà ấy lúc xót xa, lúc lại xa vắng như người chân đi không chạm đất. Thỉnh thoảng bà ấy khóc. Giọng ông (bố Chưởng) thì có vẻ còn tỉnh táo, đôi lúc khá quyết liệt, khúc triết. Tôi đã xem tất cả các video mà các báo đã phỏng vấn ông, có những đoạn giọng ông nấc nghẹn không thành tiếng. Khuôn mặt ông đen sạm, đau đớn, khô khốc. Trò chuyện một lúc rồi tôi cũng mở lời bằng một câu hỏi khá đau xót:
          Cuối năm đang đến gần, mọi người đang chuẩn bị xum họp gia đình, nhưng ông bà lại đang phải chuẩn bị tiễn biệt con ?
          Bà Nguyễn Thị Bích (mẹ Chưởng): ``Tám năm qua tôi vẫn còn bàng hoàng, lo sợ, bức xúc, vì con tôi không giết người mà bị án tử hình. Trong tim tôi lúc nào cũng đau nhói, khi trời rét, trời nóng, lúc ăn ngon... lúc nào cũng nghĩ đến con``.
          Rồi bà khóc. Có bà mẹ nào, ngoài kia giống nỗi đau của bà mẹ này không ? Có bà mẹ nào đang phải đếm từng ngày để... chôn con mình không ? (Ít nhất vào thời điểm này tôi được biết có hai bà mẹ đang phải chịu giông tố như thế).
          Bà đã gặp mẹ của nạn nhân - Thiếu tá Nguyễn Văn Sinh chưa ?
          Bà run run: ``Tôi chưa. Bởi vì khi họ hiểu lầm mình, mình mà xuống họ lại nghét...``.
          Bà ấy cũng đang đau đớn vì mất con, thì có thể sẽ thấu hiểu được nỗi đau sắp mất con của bà. Vậy đã có lần nào bà có ý định cố gắng gặp họ chưa ?
          Bà im lặng một lúc: ``Tôi chưa. Bởi vì tôi nghĩ nếu mà con tôi chẳng may bị như vậy, thì tôi cũng sẽ rất căm thù người ta (Ý của bà muốn nói là do nỗi đau quá lớn như thế, liệu người ta có nghe oan sai của con mình không hay lại thêm căm thù mình``.
          Tôi đã nói với bà rằng kinh nghiệm tác nghiệp của tôi cho thấy nếu những người đau khổ này ngồi lại với nhau thì ít nhiều sẽ có được sự cảm thông, và cả những ``phép màu`` cũng xuất hiện.
          Bà lại khóc: ``Tôi cầu mong tất cả những người có lương tâm hãy lên tiếng cứu giúp con tôi. Vì con tôi bị oan, chứ nếu như nó làm thì nó chịu chứ tôi cũng không thể kêu được. Nhưng thực tế là nó bị oan quá. Lúc xảy ra vụ trọng án ở Hải Phòng thì nó đang ở nhà - ở Hải Dương, có nhiều người biết. Nó mới 32 tuổi, xin hãy minh oan cho nó, thả nó ra, để nó còn nuôi con, vợ nó bỏ đi rồi. Chúng tôi thì cũng già rồi``.
2. Tôi tin vào sự anh minh của Chủ tịch nước
          Mặc dù sự sống của con bà chỉ còn đếm từng ngày, nhưng bà còn hy vọng hay tin tưởng vào ai, vào điều gì nữa không ?
          Không ai ``ép cung`` nhưng bà vẫn nói rằng bà tin vào sự anh minh của Chủ tịch nước, sự công bằng của pháp luật Việt Nam: ``Tôi vẫn tin, tôi nghĩ rằng Chủ tịch nước chưa biết việc của con tôi thôi. Các lá đơn của tôi chưa đến được tay Chủ tịch, chứ nếu Chủ tịch mà biết thì sẽ xem xét, hoãn thi hành án cho con tôi. Chỉ có Chủ tịch mới cứu được con tôi thôi``.
          Bà nhắc đi nhắc lại hy vọng rằng sẽ gặp được người có tâm, có đức (bà muốn nói đến các nhà báo) để có thể đưa được bức thư kêu oan của bà đến tận tay: Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao. Bà tin rằng họ cũng là những người cha, người mẹ, nên nếu bà được trình bày trực tiếp thì họ sẽ thấu hiểu nỗi oan của con bà mà cho hoãn án tử hình và xem xét lại vụ trọng án.
          Nỗi đau của ông bà cứ được nhắc đi nhắc lại bao nhiêu năm nay. Mỗi lần có người hỏi, ông bà lại phải nói, lại cảm thấy đau đớn và bất lực. Biết thế nhưng tôi không thể không hỏi ông về bức Huyết thư.
          Báo chí, truyền thông hiện đang lan truyền bức Huyết thư kêu oan của ông gửi Chủ tịch nước, ông viết bức thư đó như thế nào ?
          Giọng ông chắc nịch: ``Tôi đã viết bức thư đó ngày 22/11/2013, sau khi đi kêu oan khắp nơi, theo đúng trình tự pháp luật mà không ai thấu. Lúc đó con tôi sắp đến ngày thi hành án rồi. Đầu tiên tôi cắt máu ở tay nhưng nó không ra nhiều, nên tôi phải lấy kim to trích ở ven và viết bằng ngón tay. Tôi không biết chữ (viết lúng túng) để máu chảy ra rất nhiều mà tôi không thấy đau... Nhưng đến nay tôi vẫn chưa được phúc đáp``. 
          Ông vẫn hy vọng vào sự kỳ diệu chứ ?
          ``Tôi vẫn hy vọng. Rất hy vọng sẽ có một cuộc hồi âm gần đây, của một người lãnh đạo có tâm, có trí vì dân, vì nước, giải oan cho con tôi``.
3. Xin đừng để người dân run sợ... trong thời bình
          Trong những ngày này, Việt Nam đang nồng nhiệt kỉ niệm 70 năm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam. Đội quân đã làm lên những chiến thắng thần kì, mang lại hòa bình cho đất nước. Ông Nguyễn Trường Chinh (bố của Chưởng) là một cựu chiến binh. Ông và đồng đội cũng đã góp một phần xương máu vào những chiến thắng đó. Tôi ái ngại hỏi:
          Ông nghĩ gì trong những ngày này, khi cả nước đang hân hoan kỉ niệm, ghi công những người lính, những người cựu chiến binh thì con ông lại đang phải chịu án tử hình (oan?!)?
          Ông buồn bã: ``Tôi không còn lòng dạ nào để nghĩ đến ngày kỉ niệm của riêng mình nữa cô ạ``.
          Có lẽ lúc này ông chỉ nghĩ về sự bất công và quay lưng thôi phải không ?
          Ông quyết liệt: ``Sự bất công, quay lưng lại với tôi lúc này là do MỘT NHÓM NHỎ NGƯỜI (chứ không phải tất cả) vì muốn thăng quan, tiến chức nhanh, khoán án nên đã làm oan sai con tôi (Ông nhắc đến một người cụ thể đã làm oan sai vụ trọng án này). Tại hai phiên tòa, sơ thẩm và phúc tẩm, con tôi đã: Xin Quí tòa cho kiểm tra lại điện thoại của nó trong thời gian xảy ra vụ trọng án (48 tiếng), để thấy rõ những cuộc gọi đi, gọi đến của Chưởng là ngoại phạm; Xin Quí tòa cho gọi những nhân chứng - những người đã xác nhận sự có mặt của Chưởng ở địa phương (Kim Thành - Hải Dương) trong thời điểm xảy ra án mạng ở Hải Phòng; Xin Quí tòa xem xét giấy xác nhận trấn thương và giấy khai bị nhục hình của Chưởng khi vào trại giam Trần Phú (Hải Phòng); Xin Quí tòa xem bằng chứng là các vết thương bị nhục hình vẫn còn hằn trên thân thể Chưởng (cậu đã kể chi tiết, tỉ mỉ những dụng cụ, những hình thức nhục hình, ép cung mà cậu đã phải chịu). Nhưng qua cả hai phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều đã bác các bằng chứng đó của con tôi``.
          Lúc đó luật sư bào chữa đã nói gì thưa ông ?
          Ông nhớ lại: ``Luật sư đã yêu cầu tòa ba lần là cần phải xem xét lại các bằng chứng mà con tôi nêu ra, nhưng Tòa không chấp nhận. Ông ấy (O) đã phải kêu lên rằng: Luật này là luật của các ông chứ không phải là luật của pháp luật Việt Nam``. 
          Bây giờ ông đang run sợ ?
          Ông hạ giọng: ``Vâng, đúng thế cô ạ. Tôi đã không sợ thời chiến tranh vì đó là cuộc chiến có mục đích của chúng tôi và đồng đội, nhưng tôi lại đang run sợ trước thời bình. Tôi run sợ trước sự oan sai``.
          Lời cuối cùng trong cuộc trò chuyện này ông muốn nói là gì ?
          Giọng ông có vẻ sợ hãi: ``Đừng để người dân chúng tôi sợ thời bình. Nếu như không có một phép màu nào xuất hiện, giải oan cho con tôi thì xin cho chúng tôi chết thay nó``.  
          Dưới góc nhìn của người làm báo chí, truyền thông, chúng tôi đã nhận thấy, vụ trọng án này là một trong hai ``ngòi nổ`` về niềm tin của công chúng nhân dân (Media people) vào pháp luật, vào những nhà lãnh đạo đất nước. Việc tháo kíp nó là rất khẩn bách, không chỉ là nhiệm vụ của ngành tòa án, kiểm sát, hay chính trị, mà còn là nhiệm vụ của ngành báo chí, truyền thông. Chúng tôi thiển nghĩ, vụ trọng án này cần được xem xét lại, tránh để oan sai, bỏ lọt tội phạm, tránh làm cho người dân khủng hoảng niềm tin trong thời bình chứ không phải trong thời chiến tranh.
 20/12/2014
Thủy Tiên 

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014

Vi phạm bản quyền - tội phạm không có nạn nhân?




Luật đã đủ - sao vi phạm còn tràn lan?

Hội sách quốc tế Frankfurt 2013 chứng kiến sự kiện ra mắt Nhà xuất bản "khủng" nhất thế giới cho ra đời hàng trăm nghìn đầu sách mới mỗi năm, sau sự hợp nhất của hai nhà xuất bản lớn Penguin và Random. Trong một cuộc đối thoại giới thiệu về Nhà xuất bản tại Hội sách giữa Markus Dohle với các biên tập viên và chuyên gia từ năm tạp chí thương mại xuất bản quốc tế hàng đầu: PƯ's George Slowik, Publishers Weekly, The Bookseller, PublishNews Brazil, Bruchreport,  kéo dài 4 tiếng, về định hướng và tầm nhìn phát triển của Nhà xuất bản khổng lồ này trong chiến lược vươn khắp thế giới thì châu Á với thị trường khổng lồ, tiềm năng, đang phát triển với tốc độ nhanh chóng ở cả lĩnh vực xuất bản in ấn và điện tử là  Trung Quốc, lại không phải là đích tới ưu tiên. Cho dù "Trung Quốc là cơ hội rất lớn" song nhìn toàn cảnh, đặc biệt là vấn đề bảo hộ bản quyền tác giả và quyền liên quan khiến cho Penguin Random vẫn xem thị trường châu Á đầy tiềm năng là "bước tiếp cận sau" dù thị trường châu Âu đã già cỗi.


Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sâu và giao lưu văn hóa rộng, bảo hộ và quản lí quyền sở hữu trí tuệ đang đặt ra như một nhu yếu tự nhiên và căn cốt cho sự phát triển xã hội trên nền tảng những sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học, công nghệ,...; và cũng là điều kiện bắt buộc cho Việt Nam có thể tham gia các tổ chức quốc tế, sân chơi quốc tế công bằng và đảm bảo lợi ích vị thế cũng như kinh tế.  

 Không thể phủ nhận hiệu quả của công ước Bernen đã thổi một luồng gió mới thay đổi cục diện Ngành xuất bản ở Việt Nam, sự chuyên nghiệp hóa và bài bản đã xuất hiện những nhà sách, nhà xuất bản sở hữu dòng sách cũng như đối tượng cho riêng mình: như: Nhã Nam với các loại sách văn học dịch, nhất là những tác phẩm đoạt giải của quốc tế; NXB Trẻ thì nổi bật với các loại truyện thiếu nhi đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, châu Âu…; Công ty Văn hóa Phương Nam tạo uy tín với bạn đọc qua các tác phẩm văn học, nghiên cứu của Trung Quốc;... NXB Giáo dục cũng đầu tư cho những cuốn Bách khoa toàn thư mua bản quyền lớn,...Nhiều Nhà xuất bản nổi tiếng như Cambridge, Oxford,...đặt văn phòng đại diện tại Hà Nội... bắt tay cho những khảo sát thị trường và liên kết hợp tác.

 Song trong vòng năm năm sau đó, thị trường xuất bản phát triển theo chiều hướng mới với sự trở lại "lợi hại hơn xưa" của các nhà làm sách lậu. Các đơn vị này sang Trung Quốc,  mua cả bao tải sách về thuê dịch và xin giấy phép liên kết in, phát hành, hoặc in lậu những cuốn sách được mua bản quyền, thậm chí họ còn phát hành trước cả sách của nhà mua bản quyền thực sự. Người làm sách bản quyền nản, các nhà xuất bản nước ngoài lặng lẽ rút văn phòng đại diện khỏi Việt Nam. Kết quả là thị trường xuất bản Việt những năm 2009- 2013, lũng đoạn bởi là những mảng sao chép vi phạm bản quyền hoặc được bán bản quyền lậu với giá bèo từ các môi giới hoặc NXB địa phương của Trung Quốc. Cho đến đầu năm 2013,  truyền thông đã lên án những vi phạm và chất lượng xuống cấp nghiêm trọng vi phạm văn hóa, quốc thể của một số bộ sách trong số đó, khiến thị trường sách bản quyền lậu và rẻ từ Trung Quốc mới chững lại. 


Năm 2004, Việt Nam chính thức gia nhập công ước Bernen (bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật), đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ cho tác phẩm văn học, nghệ thuật. Tiếp đó là Công ước Rome (2007- bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng), Công ước Geneva (2005- bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép), Công ước Brussels (2006 - liên quan đến việc phân phối tín hiệu màn chương trình truyền qua vệ tinh), Hiệp định Trips (2007- về những khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ),...
Đồng thời ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật quy định, hướng dẫn thực thi về Quyền tác giả, quyền liên quan, Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan.
Hệ th.ống pháp lý đã có và cho phép Việt nam có thể tham gia các hiệp ước, hiệp định bảo hộ quyền tác giả quốc tế, nhưng  vì sao hiện tượng sách bản quyền không hợp pháp lại tràn lan, lũng đoạn thị trường xuất bản Việt nam trong nhiều năm qua?  Vì sao sau mỗi đợt bắt in lậu, sách lậu, nhà làm sách lậu lại trở lại với cửa hàng to lớn, khang trang hơn và làm sách vi phạm bản quyền, in nhái, in lậu ngang nhiên hơn?
Câu trả lời khá dễ thấy khi hiện tượng kéo dài quá lâu: Việt nam đã đạt được tiến bộ trên mặt trận pháp lý song chưa kiên quyết cải thiện việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Chúng ta chưa có chế tài thực thi mạnh mẽ khiến các điều luật bảo vệ tài sản trí tuệ chỉ tồn tại trên giấy tờ. Cùng với nó là hệ thống quản lí, giám sát lỏng lẻo và yếu công cụ hạn chế quyền thực thi, giám sát, xử lí. Chưa nói đến những khía cạnh tiêu cực khác. 

Quản lí quyền sao chép trong môi trường số - làm sao đây?

  Một lần nữa hiện trạng tồn tại đầy thách thức trong hoạt động bảo vệ sở hữu trí tuệ- tài sản trí tuệ cũng như nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề này được các nhà quản lí, chuyên gia đặt ra toàn cảnh với nhiều cảnh báo trong cuộc hội thảo “Quản lí tập thể Quyền sao chép trong môi trường số” do Hiệp hội Quyền sao chép Việt Nam (VIETRRO) phối hợp với đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam tổ chức, cuối tháng 11 vừa qua. Các diễn giả tham gia Hội thảo lần này đã dựng lên toàn cảnh hiện trạng và chạm đến những lỗ hổng, thách thức trong hoạt động bảo vệ, quản lí quyền tác giả, quyền liên quan, đặc biệt trong môi trường số và internet ở Việt Nam song các giải pháp cho những thách thức này được đề cập rất hạn chế. 


GS. TSKH Hồ Ngọc Đại, Chủ tịch VIETTRO, một lần nữa khẳng định tầm quan trọng quan trọng của Internet trong xã hội hiện đại, các cơ hội do nó mang lại cũng như những thách thức đối với việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, đặc biệt là việc bảo hộ quyền tác giả, và các biện pháp để bảo vệ hữu hiệu hơn các quyền trên trong bối cảnh công nghệ số nói chung và internet nói riêng phát triển như vũ bão trên thế giới và len lỏi tới các ngõ xóm ở Việt Nam.

Song “Quản trị Tập thể quyền sao chép trong môi trường số là vấn đề hoàn toàn mới (ở Việt Nam) và hoạt động này rất phức tạp về nhiều mặt. Bên cạnh đó hệ thống quy định pháp luật, tổ chức quản trị tập thể quyền sao chép còn chưa được chuẩn bị đầy đủ cũng như nhận thức của nhà quản lí và dư luận xã hội còn khá thờ ơ.” - Chuyên gia sở hữu trí tuệ Nguyễn Khắc Chiến cho biết.
 “Công chúng thường xem vi phạm bản quyền như một dạng “tội phạm không có nạn nhân” nhưng điều này không đúng. Nếu các ý tưởng không được bảo vệ, sau đó các nghệ sĩ, các nhà phát minh và các doanh nghiệp không thể tận hưởng được thành quả sang tạo ban đầu của họ. Nếu điều đó xảy ra, khuyến khích đầu tưu vào dổi mới khong còn, gây thiệt hại cho tăng trưởng kinh tế, phát triển con người và xã hội của chúng ta. Nếu không có bảo vệ sở hữu trí tuệ cho các ý tưởng tốt nhất, nền thơ ca, sách, âm nhạc và nhiều hơn thế nữa, có thể bị gạt ra ngoài lề” – Ông Jack Labert, tùy viên kinh tế Mỹ tại Việt Nam, đưa ra cảnh báo.


Quyền sở hữu trí tuệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ đang đặt ra ngày càng cấp thiết như cội rễ của phát triển xã hội, đặc biệt trong kỉ nguyên toàn cầu hóa với đòn bẩy công nghệ số và internet.  Đồng thời vấn đề bảo hộ bản quyền và minh bạch trong bảo vệ, quản lí, thực thi bản quyền tác giả, quyền liên quan cũng như quyền sở hữu trí tuệ đang là những thách thức cam go trong các vòng đàm phán gia nhập các tổ chức cũng như hiệp định hợp tác quốc tế của Việt Nam.  Các chính phủ Mỹ, Australia,...  đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi Chính phủ Việt Nam cần tăng cường hơn nữa môi trường pháp lý , cam kết cao hơn nữa trong hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ trong các vòng đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), một hiệp định được kỳ vọng là hiệp định kiểu mẫu của khu vực, với diện cam kết rộng và mức độ cam kết sâu, đang là thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam, mà ở đó có tới 80% đang sử dụng phần mềm vi phạm bản quyền.
          Hành lang pháp lí mới được ban hành còn nhiều bất cập, thậm chí còn chưa đủ để bảo vệ quyền tác giả, quyền quản lí tập thể trong sự phát triển như vũ bão của công nghệ, cùng với nó là sự đa dạng và phát sinh nhiều hình thức mới tương ứng với các quyền cũng như vấn đề, phạm vi cần điều chỉnh. Hoạt động quản lí và thực thi bảo hộ quyền tác giả, cũng như hành lang pháp lí và công cụ thực thi cho các Tổ chức đại diện tập thể Quyền tác giả, quyền liên quan còn chưa hội tụ đủ tiêu chí và chưa đủ mạnh mẽ, đặc biệt đối với hoạt động sao chép, xâm phạm quyền tác giả đang phát triển với nhiều hình thức, trạng thái, đặc biệt trong môi trường số nói chung và internet nói riêng. Công nghệ số và internet đã tạo nên một môi trường mà ở đó hoạt động sao chép là đặc tính vốn có của nó, sao chép xảy ra khắp mọi nơi, và ranh giới giữa bản gốc và bản sao hầu như là không có. 

 MINH ANH
Báo Văn Nghệ 12/ 2014