Thứ Hai, 25 tháng 6, 2012

NSND BÙI ĐÌNH HẠC: BÀN VỀ PHÁT TRIỂN ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM


“Điện ảnh Việt nam đã có một kỉ nguyên vàng, đó là những thập niên 1960-1970. Đó là thời kỳ mà điện ảnh Việt Nam nhận được sự hẫu thuẫn lớn nhất của toàn xã hội và đổi lại, nó tạo ra một sức mạnh phi thường trong hoàn cảnh cuộc sống khắc nghiệt nhất để thể hiện rõ rệt nhất gương mặt văn hóa và xã hội của đất nước khi đó. Điện ảnh đã không chỉ còn thuần túy là một chuyên ngành nghệ thuật mà đã trở thành một tiếng nói chung của cả dân tộc.”- Là những lời ngợi khen (của đạo diễn, tiến sĩ Dean Wilson -Mỹ) dành cho câu chuyện của Điện ảnh Việt Nam (ĐAVN) 30 năm trước . Ngay từ những năm 1980, ĐAVN bắt đầu khủng hoảng, mặc dù chương trình Chấn hưng điện ảnh cấp Nhà nước được Chính phủ phê duyệt và bước đầu triển khai (1993) song cho đến nay, thậm chí nhìn vào số lượng sản xuất và thể loại phim nở rộ những năm gần đây, giới chuyên môn và những người yêu điện ảnh nước nhà vẫn cho rằng ĐAVN cần chấn hưng và định hướng phát triển để nói lên được tiếng nói văn hóa dân tộc mà nó đại diện. 

Thực tế đã cho thấy, kỷ nguyên vàng của ĐAVN đã xuất hiện trong giai đoạn khó khăn và khốc liệt nhất của dân tộc: trong và những ngày đầu thoát khỏi cuộc chiến. Khi những người làm nghề chỉ có máy quay 16mm, vừa làm phim vừa chiến đấu, vô số nghệ sĩ đã hy sinh ngay trên trường diễn. Như vậy, điều kiện kinh tế, trình độ đạo diễn, biên kịch, quay phim, diễn viên không phải là những yếu tố gây nên sự thoái trào của điện ảnh?  Nền ĐAVN có thực đáng báo động với “thảm họa” phim thị trường như nhiều ý kiến đưa ra? Phải làm gì để chấn hưng và phát triển ĐAVN? Mang những băn khoăn này, tôi tới gặp cựu Cục trưởng Cục Điện Ảnh, NSND Bùi Đình Hạc. 

ĐIỆN ẢNH LÀ NGHỆ THUẬT, CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI LỚN

P.V: Giới chuyên môn trong nước và quốc tế đã đánh giá rất cao thời kỳ phát triển rực rỡ của điện ảnh Việt Nam trong chiến tranh và những năm đầu độc lập, thống nhất đất nước. Theo những trải nghiệm và quan sát của ông, vì sao ĐA nước nhà lại đạt được thành tựu lớn trong giai đoạn đó?
 NSND Bùi Đình Hạc:  - Điện ảnh Việt Nam có một thời kỳ đạt những đỉnh cao, mà anh em trong ngành chúng tôi gọi là “Kỷ nguyên vàng”. Tạo được gương mặt của nền điện ảnh VN vào đúng thời kỳ khó khăn nhất. Vì nó được cấu trúc hợp lí (trong thời kỳ đất nước cực kỳ khó khăn) và quản lí tốt.
Trong nhiều thập kỷ nay, ĐAVN đã rơi vào thời kỳ khủng hoảng, mặc dù chúng ta vẫn có những đạo diễn, biên kịch, quay phim tài năng, và điều kiện kinh tế và ổn định xã hội đã hơn trước vượt bậc. Và ít nhiều điện ảnh vẫn nhận được sự quan tâm và đầu tư lớn của Nhà nước so với các ngành nghệ thuật khác. Phải chăng chúng ta chưa hiểu hết về điện ảnh để có định hướng đúng, thưa ông?
Từ khi đổi sang cơ chế thị trường, điện ảnh đã không bắt kịp với sự thay đổi hay nói cách khác chưa có cơ chế, chính sách cho sự phát triển của điện ảnh từ đó. Muốn phát triển ngành điện ảnh cần ba vấn đề: thứ nhất là chiến lược phát triển cùng với các chính sách của Nhà nước đối với ngành điện ảnh; thứ hai là lựa chọn mô hình điện ảnh, bộ máy điều ảnh và phương thức sản xuất, phát hành chiếu bóng điện ảnh và thứ ba là con người- đội ngũ sáng tác, biễu diễn, các chuyên gia, kỹ thuật,….
Tôi nói đến ba yếu tố này bởi vì đặc thù của điện ảnh là ngành cấu thành bởi: nghệ thuật, công nghiệp và thương mại lớn. Điện ảnh khác với các loại hình nghệ thuật khác ở những đặc tính đó. Khi điện ảnh ra đời, đã có người nói rằng, nhiếp ảnh sẽ chết, nhưng nhiếp ảnh không chết mà vẫn phát triển theo đặc điểm riêng của nó- tĩnh có cái đẹp cái tĩnh.Khi vô tuyến truyền hình ra đời, nhiều người lại quên mất đặc thù của điện ảnh mà có quan điểm tương tự. Điện ảnh có một lịch sử phát triển kỹ thuật song hành với sự xuất hiện của nó 100 năm nay, và nay đã có kỹ thuật phim 3D, 4D, màn ảnh lớn. Điện ảnh sẽ vẫn phát triển lớn lao với sự ủng hộ của khoa học kỹ thuật. Kinh tế và kỹ thuật gắn liền với nghệ thuật- đó là đặc thù của điện ảnh.  Điện ảnh là sản phẩm thương mại, có thể mang lại lợi nhuận hàng tỉ đôla mỹ- với những phim bom tấn. Ngay ở Việt Nam, nhiều phim có doanh thu hàng chục tỉ đồng.

MỘT VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH TỰ NUÔI

Vâng, đó quả là ba vấn đề vĩ mô phát triển điện ảnh, ngay bây giờ muốn thay đổi và thực hiện điều đó, ngành điện ảnh cần gì thưa ông?
Muốn chấn hưng điện ảnh phải có Viện Hàn lâm- nơi quy tụ các chuyên gia, các nhà nghiên cứu uy tín. Nơi đây sẽ nghiên cứu tổng thể và cải tổ toàn diện nền điện ảnh từ HTCS đến TTKT.Họ được phép trực tiếp làm việc với cấp trên khi cần ra những quyết định, kế hoạch. Về CSHT, các rạp ở địa phương giờ rất yếu, không thể kéo dài tình trạng này nữa. Rạp chiếu phim của Mesgastar đang kinh doanh rất tốt ở một số thành phố lớn nhưng đó là của tư nhân, nội lực  điện ảnh quốc gia không thể dựa vào đó được  phải có các rạp của mình không thì sản phẩm điện ảnh của mình sản xuất ra thì chiếu ở đâu? Trung tâm Chiếu phim Quốc gia tại Hà Nội hiện đang phát triển rất tốt, cần nhân rộng mô hình này ở các thành phố lớn.
Điện ảnh có tác động lớn lắm. Điện ảnh càng phát triển thì càng phá vỡ hàng rào ngăn cách giữa các ngành nghệ thuật. Bởi một tác phẩm điện ảnh thống nhất bởi nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác: tạo hình, âm nhạc, diễn xuất, mỹ thuật, văn học,… và tạo nên một nền văn hóa trong một bộ phim. Điện ảnh có một khả năng hấp thu văn hóa và cuốn hút quần chúng nhân dân mạnh mẽ. Nó có tác động xã hội mạnh lắm mà người làm quản lí, văn hóa không thể quên được đặc thù đó.
Còn về vấn đề kinh tế thưa ông, chúng ta đều biết rằng khoản tiền đầu tư để thực hiện một bộ phim thường ngốn hàng tỉ đồng, có phim lên tới vài chục tỉ đồng.  Phát triển tức là đa dạng hóa, là lớn mạnh về số lượng và chất lượng. Nhưng tiền đâu để đầu tư vào điện ảnh khi nước ta chưa giàu có để có thể đổ tiền ào ào vào điện ảnh như Mỹ, Pháp, hay Hàn Quốc?
Chúng ta đòi Nhà nước tiền thì lấy đâu ra tiền. Phải có mô hình để nó có thể tự nuôi nó và phát triển. Chẳng hạn, cần có sự phối hợp giữa truyền hình và điện ảnh. Đối với tôi, làm cái gì cũng phải đúc kết kinh nghiệm trong cuộc sống.  Chúng ta thấy rằng Tổng cục điện ảnh Trung Quốc được nhận 3% quảng cáo từ truyền hình, và sau đó họ đã lớn mạnh gấp 10 lần Đài Loan mà trước khi thành lập Tổng cục họ kém điện ảnh Đài Loan 10 lần. Ở Pháp, thì người ta lấy tất cả tiền thuế XNK phim ảnh, thuế truyền hình chuyển hết đầu tư điện ảnh. Họ có đến 50 chương trình trên truyền hình để chiếu phim hoặc giới thiệu phim. Truyền hình và điện ảnh muốn phát triển cần gắn với nhau.
Hoặc giả chúng ta cứ xem điện ảnh là một ngành công nghiệp thương mại mà có chiến lược đầu tư ồ ạt như Mỹ chẳng hạn?
Ngày tôi làm ở Cục điện ảnh, tôi đã đề nghị đi Hollywood, bộ trưởng Trần Hoàn nói với tôi “đi Mỹ giờ vẫn khó lắm”. Tôi bảo tôi không cần đi Mỹ, chỉ cần đi Hollywood vì tôi làm điện ảnh. Đến Hollywood, vừa qua cái cầu thì rầm một cái, quay lại thì cầu sập. Qua một cái cây, một con Kinh Kong nhảy ra thét một tiếng, đẩy nghiêng xe – mọi người sợ hãi thì bên đường người ta cười ầm lên.… Hàng nghìn kỹ thuật viên ở trong khu Đại lộ Hollywood đó… ĐA Mỹ đúng là khổng lồ, đúng là công nghiệp. Nhưng không phải là nó không có điểm yếu. Khán giả và giới phê bình đang kêu phim Mỹ khô quá, không thật, kỹ thuật nhiều quá. Một đạo diễn nổi tiếng của Nga cho rằng, Avatar không có diễn xuất. Vậy đấy, trong điện ảnh cái gì quá đi cũng không tốt. Con người vẫn là chính, là trung tâm. 

TÁC QUYỀN VÀ CHẤT LƯỢNG

Và con người chỉ có thể lao động tốt khi họ có động lực. Đối với người lao động sáng tạo như trong lĩnh vực nghệ thuật mà cụ thể đây là điện ảnh, theo ông trong cơ chế thị trường và mở cửa hiện nay, người nghệ sĩ sáng tạo cần động lực gì?
Hỗ trợ đầu tư không phải là động lực lớn nhất đối với người nghệ sĩ sáng tạo. Ngay cả khi không có tiền, họ vẫn sáng tạo và làm việc nhưng điều quan trọng hơn cả là thành quả - sản phẩm sáng tạo của họ phải được công nhận và được bảo hộ tác quyền. Chính sách bảo vệ quyền tác giả là yếu tố cần. Cục điện ảnh phải lo vấn đề tác quyền và chi phí bản quyền cho các bộ phim.  Hiện nay, một bộ phim (tài liệu, truyền hình) chiếu đi chiếu lại ở nhiều kênh truyền hình trung ương, địa phương; rồi in sang CVD, DVD,... nhưng tác giả và ê kíp làm phim đó không nhận được một khoản thù lao nào, thậm chí hiếm khi được hỏi ý kiến/thông báo.
Như bên Hội âm nhạc hiện nay cũng vậy, các cơ quan nhà nước phải lo vấn đề bản quyền: thu phí, xử phạt chứ không nên để anh em Hội nghề nghiệp họ phải tự xoay sở, tự làm, tự chia nhau...
Trở lại với vấn đề chất lượng tác phẩm điện ảnh nước nhà trong những năm gần đây, ông có đánh giá gì về chất lượng phim hiện nay?
Trong 12 phim truyện điện ảnh dự thi cánh diều 2011, có hai phim nhà nước, còn lại phim tư nhân với rất nhiều thể loại: phim hài, kinh dị, tâm lí xã hội, hiện thực,… cho thấy điện ảnh đang phát triển theo hướng tự nhiên.Vậy, chúng ta phải có hướng đi, tạo môi trường cho nó nó phát triển. Phim Nhà nước đầu tư chỉ có hai phim , như thế là điện ảnh Nhà nước yếu, cần làm cho nó mạnh lên và đầu tư đúng với tầm vóc, chi phí thực hiện tác phẩm. Một tác phẩm điện ảnh có khi nó đại diện tầm vóc cho cả một dân tộc, một nền văn hóa đặc biệt với những thể loại phim lịch sử, chiến tranh.
Chúng ta không nên phân biệt phim nhà nước với phim tư nhân mà gắn với mác phim thị trường. Quan trọng là hiệu quả của tác phẩm và vai trò nhất định của nó đối với công chúng cũng như với người làm nghề.
-         Xin trân trọng cảm ơn ông!


NSND Bùi Đình Hạc là người đã mang những giải vàng từ LHP QT đầu tiên cho điện ảnh Việt Nam từ những năm 1950 với phim tài liệu – Nước về Bắc Hưng Hải, Đường về quê mẹ. Ông có 7 phim được giải Bông Sen vàng (Nguyễn Văn Trỗi, Đường về quê mẹ (phim truyện), Anh Nguyễn Văn Trỗi sống mãi, Nước về Bắc Hưng Hải, Nguyễn Ái Quốc đến với Lenin, Đường về Tổ quốc, Hồ Chí Minh – chân dung một con người (phim tài liệu), một phim được Bông Sen bạc (Hà Nội 12 ngày đêm). Ông được NN phong tặng danh hiệu NSND đợt 1 năm 1984, và giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 3- 2007.


Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Họa sĩ Thành Chương: "Không bao giờ vẽ lại kí ức chiến tranh"



Với nhiều người hội họa là một cách nhận thức thế giới, nhưng với họa sĩ Thành Chương, hội họa là “một cách để yêu thế giới”, và “Người hoạ sĩ tạo ra một thế giới để yêu mến và giữ gìn” và ông đã rất giữ lời trong suốt hành trình sáng tạo và trải nghiệm cùng hội họa nói riêng và nghệ thuật nói chung.
Thế giới trong hội họa của ông đầy màu sắc tươi sáng, thần thái nhân vật dân gian ngộ nghĩnh, biến hóa trong những đường nét góc cạnh và sắc màu hiện đại. Nói như nhà phê bình nghệ thuật Bùi Như Hương thì tác phẩm của ông là “tranh dân gian Việt Nam hiện đại” và ông là người “bắc cầu nối bản sắc dân gian Việt Nam với tính đồ hoạ hiện đại quốc tế”.
Hơn một thập kỷ nay, tên Thành Chương xuất hiện dày đặc trên các phương tiện truyền thông không chỉ ở vai trò là một nghệ sĩ luôn có những triển lãm đặc sắc nhất, những bức tranh đắt giá nhất, họa sĩ giàu có nhất nhờ bán tranh, tranh được bán ra nước ngoài nhiều nhất … mà ông còn được quan tâm đặc biệt trong vai trò là ông chủ của Việt Phủ Thành Chương –  Một công trình, không gian văn hoá thuần Việt mà ông đã tiêu tốn những khoản tiền kếch xù từ bán tranh, cùng những tài sản khác,… thực hiện trong hơn mười năm qua. Lần đầu tiên một công trình văn hóa trở thành một đối tượng của bộ phim tài liệu dành được giải thưởng quốc tế và trong nước – “Việt Phủ Thành chương- Nơi trú ngụ tâm hồn Việt” ( đạo diễn Lê Vũ Hoàng, Nguyễn Lê Văn, Vũ Minh Bảo, ban khoa giáo Đài truyền hình Việt Nam). Còn đối với tác giả, Thành Chương cho rằng đây là “một tác phẩm nghệ thuật sắp đặt” lớn trong cuộc đời mình. Một lần nữa, hoạ sĩ Thành Chương lại thành công với nghệ thuật sắp đặt của mỹ thuật đương đại trên chất liệu dân gian. Đời sống và không gian sống truyền thống của người Việt được Thành Chương nghệ thuật hóa, thanh lịch và trang trọng.
Có lẽ do gắn liền với chất liệu, đời sống dân gian nên tiếp xúc với ông, sự gần gũi, hóm hỉnh, vui tươi cũng lan truyền đến người bên cạnh. Song điều thú vị nhất vẫn là khám phá những điều mới ở Thành Chương. Những điều mới này ở những công việc hiện tại, những ý tưởng, dự định, sáng tác mới và trong cả những kí ức thi thoảng hé lộ trong những câu chuyện của ông. Kí họa chiến trường, kí ức tuổi thơ và tình yêu Hà Nôi là nội dung của cuộc trò chuyện dưới đây giữa Minh Anh (Trần Nga) với họa sĩ Thành Chương.

Hội hoạ - Tình yêu và số phận

Minh Anh (M.A): Được biết năm 6 tuổi, ông đã có bức tranh “Đôi gà tồ” được giải thưởng vàng tranh thiếu nhi quốc tế tại Anh, ông đã học vẽ tranh trước đó từ bao giờ? Và ông đã học vẽ cũng như đến với hội họa như thế nào khi đất nước đang thời chiến tranh rất khốc liệt?

Họa sĩ Thành Chương: Bức tranh “Đôi gà tồ” là một trong những bức tranh đầu tiên khi tôi bắt đầu cầm bút vẽ. Bây giờ nhìn lại tôi vẫn còn cảm thấy ngỡ ngàng. Sao 6 tuổi lại có thể vẽ được như thế này? Vì thế khi bức tranh này được giải thưởng và được in trên báo mọi người đã gọi tôi là “Thần đồng hội hoạ”. Bố tôi (nhà văn Kim Lân) là người đã truyền cho tôi tình yêu hội hoạ và những người thầy dạy tôi học vẽ đầu tiên là Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm,… Sau đó tôi vào học trường cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, hệ năng khiếu đặc biệt. Từ năm 1960 đến 1966, khi đất nước có chiến tranh tôi đã tình nguyện nhập ngũ.Trong những năm tháng tham chiến chống Mỹ rất khốc liệt cùng đồng đội, tôi đã vẽ rất nhiều kí hoạ ở chiến trường với họa danh Trường Thanh.


M.A: Ông nuôi dưỡng và sống cùng hội hoạ như thế nào trong suốt thời gian từ 1954 đó tới khi ông trưởng thành trong khi cùng đất nước sống và chiến đấu trong chiến tranh chống Mỹ?

Họa sĩ Thành Chương: Hồi nhỏ, ngoài sự hướng dẫn của những danh hoạ, những người bạn rất thân của gia đình, bố tôi còn cho tôi tham gia sinh hoạt ở đội vẽ của nhà văn hoá thiếu nhi (Nay là cung văn hoá thiếu nhi Hà Nội). Vậy là đã hơn nửa thế kỷ cầm bút vẽ rồi! Chị hỏi tôi nuôi dưỡng và sống với nó như thế nào ư? Chỉ có thể là số phận và thật may mắn là tôi lại vô cùng yêu cái số phận đó. Vừa là số phận vừa là tình yêu thì chắc là nó sẽ hết đời mình rồi.

M.A: Là một người nổi tiếng bán được nhiều tranh, vậy người mua tranh nào để lại ấn tượng mạnh trong ông?

Họa sĩ Thành Chương: Tôi không còn nhớ tên được người đó. Rất đáng tiếc. Nhưng ông là một người Mỹ. Khi tôi về đến nhà thì gặp một người đàn ông to lớn đứng dựa lưng ngoài cổng, tay cầm một tấm danh thiếp của tôi mà ông photo lại của ai đó. Và thật ngạc nhiên khi ông mua tới 13 bức mà toàn tranh tự hoạ. Mọi người thường hỏi tôi: sao vẽ tranh tự hoạ nhiều thế? Nhưng lần này chính tôi phải hỏi lại ông sao ông mua tranh tự hoạ của tôi nhiều thế. Ông ấy trả lời: “Tôi thấy tôi trong những bức tự họa của ông. Tôi mua những bức này để tặng vợ tôi.Tôi muốn vợ tôi hiểu tôi qua những bức tự hoạ này.”.Tôi rất ấn tượng và thực sự cảm động, hạnh phúc.

Kí họa chiến trường

M.A: Trở lại với những bức kí họa ông thực hiện những năm tham gia kháng chiến chống Mỹ (1967-1975), phải chăng trong điều kiện chiến tranh khốc liệt, kí họa là một hình thức “tác chiến” sáng tác có nhiều lợi thế hay còn những lí do nào khác đã khiến kí họa là những tác phẩm chủ đạo trong sáng tạo nghệ thuật của ông thời gian này?

Họa sĩ Thành Chương: Trong những ngày tháng chiến tranh khốc liệt, từng giây phút giành giật giữa sự sống với cái chết, hình ảnh những chiến sĩ giải phóng anh dũng quả cảm trong bom rơi, đạn nổ luôn là hình ảnh đẹp mà cảm phục, yêu quý và ghi lại. Phải nói rằng, trong điều kiện chiến tranh kí họa là phương tiện tốt nhất ghi lại một cách chân thực nhất những hình ảnh hào hùng đó.

M.A: Từ đó đến nay đã hơn nửa thế kỷ, ông còn nhớ mình đã vẽ bao nhiêu bức kí họa không? Bây giờ chúng được lưu giữ ở đâu? Những kỉ niệm của ông với những bức kí họa cũng như quãng thời gian vừa là người lính vừa là nghệ sĩ đó?

Tôi đã vẽ hàng trăm bức trong điều kiện vô cùng ngặt nghèo cả về thời gian và hoàn cảnh rất. Nhưng dù ở bất cứ hoàn cảnh nào tình yêu cuộc sống, tình yêu nghệ thuật vẫn luôn là động lực để tôi sống và vẽ. Tôi đã bán rất nhiều tranh nhưng những bức kí họa chiến trường thì không bao giờ bán cả. Đó là những chứng nhân lịch sử của những năm tháng hào hùng của dân tộc, của cá nhân tôi cùng đất nước mà lúc nào xem lại tôi cũng rất xúc động. Hiện tôi lưu giữ những bức họa này ở nhà riêng.  


M.A: Đối với ông, “Kí họa chiến trường” đóng vai trò như thế nào trong hành trình sáng tạo nghệ thuật cũng như cuộc sống cá nhân của ông sau này? 

Đã từng trải qua những năm tháng khốc liệt trong chiến tranh, tôi hiểu cái giá phải trả cho cuộc sống thanh bình bây giờ. Chính vì thế tôi muốn dùng nghệ thuật của mình để ca ngợi cuộc sống thanh bình, hòa bình của đất nước hôm nay. Vì đó là thành quả mà dân tộc chúng ta phải trả bằng máu và nước mắt. Tôi cũng không bao giờ vẽ lại những kí ức chiến tranh, mặc dù đôi khi nó cũng ám ảnh tôi. Tôi luôn vẽ những bức tranh về cuộc sống giản dị, yên ả.

Yêu hết tình và sống hết mình

M.A: Trong một bài trả lời phỏng vấn, bà Ngô Hương vợ ông, đã nói rằng, ngay từ những lần gặp đầu, bà đã cảm nhận được đằng sau những câu chuyện hài hước, vui vẻ mà ông luôn làm rôm rả những buổi trò chuyện với bạn bè, đồng nghiệp, là một nỗi buồn, nỗi cô đơn sâu thẳm bên trong. Tôi tin rằng, bà ấy cảm nhận đúng và rất hiểu ông, bằng chứng là ông bà đã sống rất hạnh phúc bên nhau, công chúng luôn thấy ông bà tay trong tay trong tay ở các sự kiện lớn nhỏ. Và tôi rất tò mò muốn biết Nỗi buồn và cô đơn của hoạ sĩ lớn là gì?

Họa sĩ Thành Chương: Sinh ra ở đời, ai chẳng có nỗi buồn và sự cô đơn. Nếu có khác thì chỉ là cái cách họ sống và vượt qua nó thế nào mà thôi. Và tôi đã chọn được cách sống tốt cho riêng mình. Yêu hết tình, sống hết mình và luôn cố gắng làm việc hết sức để cuộc sống vô nghĩa này thành có nghĩa.

M.A: Chỉ cần là một người quan tâm một chút đến hội hoạ nước nhà, là họ có thể nhận ngay ra tranh Thành Chương trong vô vàn những bức tranh khác. Tranh của ông thực sự rất đặc biệt và ông cũng sớm giành được nhiều giải thưởng quốc tế. Có một điều tôi phân vân là ông có rất ít giải thưởng trong nước. Ông đã bao giờ thử lí giải điều này?

Họa sĩ Thành Chương: Nó đơn giản lắm, vì trước đây tôi gửi tranh bao giờ cũng bị loại. Nên từ lâu lắm rồi tôi không gửi tác phẩm của mình tham gia các triển lãm và giải thưởng trong nước nữa.

Chỉ có thể là: Tôi thương Hà Nội lắm

M.A: Tôi ít thấy ông đi nước ngoài như nhiều người Việt Nam nổi tiếng khác, vì sao ông cứ quẩn quanh ở Hà Nội vậy? sao ông không mua một cái nhà ở Mỹ, Sing,… như nhiều hoạ sĩ nổi tiếng VN khác?

Họa sĩ Thành Chương: Tôi không phải là người thích quanh quẩn một chỗ. Tôi rất thích đi và hay đi lắm. Tôi đi và triển lãm ở nước ngoài nhiều: Singapore, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Anh, Lucxambua, Mỹ, Italia, Đan Mạch, Thuỵ Sĩ, … Nhưng chỉ vài ngày thôi là lại về Hà Nội rồi, không thể xa Hà Nội lâu được. Tôi cũng không thể sống ở một nơi nào khác.

M.A: Ông có nhớ mình đã vẽ bao nhiêu bức tranh về Hà Nội không?

Họa sĩ Thành Chương: Tôi không nhớ chính xác về số lượng, có một số bức về phố cổ, bến sông Hồng, thiếu nữ Hà Nội,… Hà Nội là thủ đô, nơi hội tụ tất cả những tinh tuý của đất nước. Và những tinh tuý ấy ở thủ đô lại được nâng lên một tầm cao hơn đó là: văn minh - sang trọng. Tôi luôn muốn những tác phẩm của mình có được tinh thần ấy của văn hoá Hà Nội

M.A: Thường những cảm hứng sáng tác về Hà Nội đến với ông như thế nào?

Họa sĩ Thành Chương: Nó thường đến với tôi khi xa Hà Nội. Hồi nhỏ đi sơ tán, hồi là lính ở chiến trường, rồi những chuyến đi nước ngoài,... những lúc như vậy. Hà Nội nhớ nhung lắm, Hà Nội thương yêu lắm,... và khi ấy muốn vẽ Hà Nội lắm.

M.A: Không phải là vẽ tranh mà là ngôn ngữ, thì ông sẽ nói điều gì với Hà Nội?

Họa sĩ Thành Chương: Tôi chỉ có thể nói rằng: Tôi thương Hà Nội lắm!

Xin chân thành cảm ơn ông và chúc luôn luôn mạnh khỏe!

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

NSND ĐÌNH QUANG: SÂN KHẤU KỊCH VẪN ĐANG CẦM HƠI

Có thể nói, từ khi cách mạng tháng 8 thành công (1945), kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và đến hơn một thập kỷ sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1985-1990), sân khấu kịch tuy mới xuất hiện nhưng nhanh chóng làm bá chủ đời sống văn hóa của đông đảo giới trí thức, chiến sĩ đến quần chúng nhân dân. Sự xung đột của những tuyến nhân vật, tính kịch trong loại hình sân khấu này cùng sức nặng nội dung chuyển tải những mâu thuẫn, sự thật trần trụi, khốc liệt của đời sống mà hàng ngày người dân cảm, gặp, thấy lên sân khấu nghệ thuật đã thuyết phục người xem. Nhiều vở kịch đã gây chấn động dư luận, và kích thích khán giả hướng đến sự hiện hữu của công lý và sự mạnh mẽ, dũng cảm đời thường. Sân khấu kịch đã thành công trong vai trò là một loại hình nghệ thuật có vị trí trong lòng khán giả đồng thời còn là tiếng nói mạnh mẽ của trí thức trong xã hội. Tuy nhiên, gần 30 năm trở lại đây, hoạt động của sân khấu kịch suy giảm, yếu ớt, đôi khi le lói một, hai vở của nhà hát Tuổi Trẻ, nhà hát Lan Anh… Vì sao sân khấu kịch – một loại hình nghệ thuật mới xuất hiện ở nước ta trong vòng chưa đầy một thế kỷ, nở hoa rồi lụi tàn? Sự tiếp nhận của công chúng (nhà quản lí, giới chuyên môn, bình luận và khán giả) đối với loại hình nghệ thuật mới này đã như thế nào? Sự tiếp biến của một loại hình nghệ thuật – như sân khấu kịch với thời đại cần những điều kiện gì? Đó là nội dung cuộc trò chuyện giữa phóng viên báo Văn nghệ với Giáo sư, tiến sĩ, NSND Đình Quang, một người gắn bó với nghệ thuật sân khấu Việt Nam thời kỳ đầu. 
Giáo sư, Tiến sĩ, Nghệ sĩ nhân dân Đình Quang (Nguyễn Đình Quang - 1928) là một tên tuổi có nhiều đóng góp lớn cho nghệ thuật sân khấu Việt Nam ở cả bốn lĩnh vực: biểu diễn, đào tạo, lí luận phê bình và quản lí.Ông viết hàng chục cuốn sách nghiên cứu lí luận sân khấu và văn hóa, một số cuốn sau này được ông tập hợp trong bộ Tuyển tập Đình Quang: Về sân khấu Việt Nam, Về sân khấu nước ngoài (1962), Về văn học nghệ thuật (1995), Về văn hóa (1999) đã được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2007. Ông từng là thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin (1983-1994) và hiệu trưởng trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Việt Nam. 
  
P.V: Là một người gắn bó cả cuộc đời với sân khấu kịch, trong kí ức của Giáo sư, thời điểm huy hoàng của nhất của sân khấu kịch là thời gian nào? 

 Đó chính là giai đoạn 1960-1985. Và Hội diễn sân khấu kịch toàn quốc năm 1985, chính là năm huy hoàng nhất của sân khấu kịch phía Bắc. Hội diễn năm’85 đã diễn ra 5 tỉnh thành. Ở thành phố Hồ chí Minh, năm vở diễn: Nhân danh công lí, Tôi và chúng ta, Mùa hè ở biển, Đỉnh cao mơ ước, Nhân chứng và lịch sử được báo chí Sài Gòn gọi là 5 chiếc xe tăng vào giải phóng Sài Gòn về văn hóa. Còn miền Bắc coi là những phát súng đầu tiên của đổi mới tư duy. Nhân danh công lí đòi hỏi sự công bằng trước pháp luật, hay Mùa hè ở biển đặt ra những mâu thuẫn nhận thức giữa các thế hệ khác nhau; hay Nhân chứng lịch sử nói về vấn đề thực chất, mối quan hệ căn nguyên của cuộc chiến chống Pháp; Đỉnh cao mơ ước nói đến lí tưởng của thanh niên. Cả giới VHNT lúc đó đều công nhận sâu khấu đã mở đầu cho sự đổi mới tư duy. 
 P.V: Về phía khán giả thì sao ạ? Công chúng đón nhận những vở kịch này như thế nào thưa ông?
Thời ấy phải nói là làm nghệ thuật là vinh quang. Người ta đối với nghệ sĩ trân trọng lắm. Có khi cả khán phòng im phăng phắc, có khi vỡ òa tiếng cười đến vỡ rạp. Những vở kịch về vấn đề xã hội: tiêu cực, tham nhũng, … khán giả hăm hở xem, đông lắm. Có những vở diễn cả trăm đêm. Người xem thấy được giải tỏa, thấy ở đó tiếng nói công tâm. Không có chuyện tán gẫu, bá cổ, ăn uống trong rạp như bây giờ. Người ta đi xem, là người ta có nhu cầu tâm tưởng, còn giờ là giải trí. Một vở kịch người ta xem thấy nó giải đáp một vài băn khoăn của người xem trong cuộc sống, hay nó giải thích và làm cho sự hiểu biết, nhận thức của con người ta tiến lên thì mới là nghệ thuật. Còn lại nhiều vở, ca ngợi xuôi chiều thì khiến những người lãnh đạo phấn khởi, hỉ hả chứ không giúp gì cho sự phát triển của xã hội, thì nó cũng chỉ có giá trị nhất thời thôi.

 P.V: Trong những vở kịch ông dựng đầu tiên ấy, những vở nào để lại nhiều ấn tượng với ông? 
 Làm thì nhiều nhưng đáng nói thì đấy là: Một quê hương Việt Nam, Bạch Đằng Liễu (Xuân Trình); Bệnh sĩ (Lưu Quang Vũ). Một quê hương Việt Nam về cuộc kháng chiến chống Mỹ, nó đưa ra hai mặt: có người dũng cảm, có người nhát gan, có người cảm thấy mình không đủ sức theo được đã xin ra khỏi Đảng để khỏi mang tiếng Đảng. Hay mâu thuẫn giữa ông bí thư đảng ủy dũng cảm nhưng ông chủ tịch lại chuyên bàn lùi. Lúc đó, người duyệt ở Hà Nội người viết ở Vĩnh Linh, nên giữa người viết và người thông qua nó không khớp nhau về nhận thức. Hay Bạch Đằng Liễu lúc đó phê phán mấy cậu chủ tịch xã và chống lại tham nhũng, cửa quyền, cũng bị phê phán lắm. hay Bệnh Sĩ – người mình cứ tự phỉnh nịnh, phù phiếm, cho mình là lương tâm nhân loại mà không thấy mặt yếu, mặt dở của mình – thì vở diễn đã đặt ra những vấn đề khiến người ta phải suy nghĩ.
P.V: Ông có cho rằng những vở kịch nói lên những mặt trái của xã hội, thì nó lại thu hút được khán giả và tạo được tiếng vang không? 
Gọi là mặt trái thì không đúng, vì thường các vở mà mâu thuẫn của nó là đấu tranh với những tiêu cực trong xã hội thì luôn là cái tiến bộ nó đấu tranh với cái lạc hậu. Cho nên trong những vở ấy đều có mặt tiến bộ và lạc hậu chứ không thuần túy, vì đấu một người tham nhũng, cửa quyền thì phải là một anh trong sạch, thanh liêm. Nhưng lúc đó ở mình vẫn có tư tưởng lương tâm nhân loại, cái gì cũng tốt, nói cái gì tiêu cực thì người ta cho là định kiến. Cho nên nó cũng gặp cái khó.
 Sân khấu kịch từng tỏa ánh hào quang huy hoàng nhưng gần ba mươi năm nay, sân khấu kịch không còn thấy bóng dáng những vở kịch có tiếng vang như trước. Các vở diễn cũng ít xuất hiện, thỉnh thoảng mới thấy có một, hai vở hút khách của sân khấu kịch Lan Anh.
  Sân khấu hiện nay đang ở giai đoạn khủng hoảng. Nó khủng hoảng cũng từ sau Hội diễn năm 1985 ấy. Vì lúc đó bắt đầu đổi mới cơ chế kinh tế. Bước sang một cơ chế quản lí kinh tế mới mà giới VHNT gần như không được chuẩn bị về cơ chế, hoạt động. Phải nói Nhà nước đề ra xã hội hóa văn học nghệ thuật nhưng không có những biện pháp đi kèm với nó. Cái lúng túng ấy cho đến hôm nay.
 Đứng trước thực tế đó, miền Nam vốn là cơ chế thị trường nên thích ứng nhanh hơn, còn miền Bắc vốn quen với bao cấp đâm lúng túng. Chính vì chỗ đó đối với người làm sân khấu miền Nam năng động hơn miền Bắc. Còn đối với người xem, sau một cuộc chiến tranh 30 năm người ta mệt mỏi rồi nên thiên về giải trí tiêu khiển. Nhìn chung, cả kịch nói lẫn sân khấu dân tộc ở hai miền Nam- Bắc đều khó khăn như nhau. Sân khấu Sài Gòn năng nổ, đông khách, sầm uất hơn nhưng vẫn thiên về giải trí, khôi hài, đồng tính, thỉnh thoảng mới có đôi ba tiết mục phản ánh xã hội một cách sâu sắc. Dù là miền Nam gọi là sầm uất hay thưa thớt vắng vẻ ở miền Bắc thì cả hai bên đứng về mặt nghệ thuật mà nói đều coi là nền sân khấu đang òi ọp.  
Vâng, bên cạnh chuyển đổi cơ chế kinh tế, còn có sự mở cửa và giao lưu với quốc tế, khiến nhiều dòng văn hóa và trào lưu nghệ thuật đổ ào vào nước ta và làm suy yếu đời sống nghệ thuật truyền thống dân tộc. Quan điểm của ông về vai trò sân khấu kịch nước ta như thế nào? 
Lẽ ra, trong những bước chuyển đổi của xã hội thì sân khấu phải là ngành có sức mạnh nhất. Bởi bản chất thẩm mĩ của sân khấu là xung đột và mâu thuẫn, chính thông qua những xung đột mâu thuẫn xã hội nó phản ánh tình hình xã hội một cách sâu sắc nhất. Trong khi xã hội ta lúc này ngổn ngang bao nhiêu chuyện, đang dữ dội, mất thăng bằng giữa đời sống kinh tế và đời sống văn hóa nhưng sân khấu gần như không liên quan. Toàn nói những chuyện ở đâu đâu. Đến lúc này sân khấu vẫn là cầm hơi thôi chứ so với những thể loại như nhạc nhẹ, hay Bước nhảy hoàn vũ(chương trình truyền hình),… thì nó không gây được sóng gió. Nhưng nếu nền nghệ thuật của nước toàn những bài ca yêu thích, hay Vietnam’s got talent, thì đâu gọi là một nền nghệ thuật có chất lượng được. Nó chỉ là một thứ giải trí cho vui. 
Hiện nay, từ sân khấu truyền thống: Tuồng, chèo, cải lương tồn tại hàng trăm năm nay đến sân khấu kịch xuất hiện trong gần một trăm năm nay đều thoi thóp, èo uột. Ông có sự cảnh báo hay lạc quan nào ở hiện tượng này không thưa ông? 
  Nghệ thuật truyền thống khó khăn và khủng hoảng hiện giờ là điều tất nhiên. Gọi là truyền thống tức là nó có một vai trò lịch sử nhất định. Còn xã hội thay đổi và biến chuyển mà nghệ thuật truyền thống đó không có sự thay đổi về nội dung hoặc hình thức, không có sự cải biến mới thì làm sao hấp dẫn được người xem. Đồ cổ mua để dùng thì khó lắm. Nghệ thuật truyền thống muốn được yêu thích thì phải tự hiện đại hóa lên. Hiện nay có hai dòng suy nghĩ: bảo thủ - ôm cổ truyền không nghĩ đến đòi hỏi của người xem, ngược lại người muốn làm cái mới lại không nghiên cứu kỹ cái cổ truyền thành phá phách.
 Vậy làm thế nào để duy trì nghệ thuật truyền thống trong thời đại mở cửa văn hóa, kinh tế như hiện nay, thưa ông? 
Làm thế nào là một sự thử thách một cuộc thí nghiệm. Các viện nghiên cứu khi đưa ra một sản phẩm, họ phải qua bao nhiêu thí nghiệm, tốn nhiều tiền bạc và thời gian cho cuộc thí nghiệm. Sân khấu cũng vậy, không mạnh dạn với những thí nghiệm thì làm sao thay đổi được. Như tôi đây, khi mới bắt đầu hút thuốc lá cũng phải tập mới nghiện được. Huống chi nghệ thuật là tinh thần, để chuyển đổi tinh thần thì phải có thời gian và có sự biến chuyển. Bắt được cái gu thẩm mĩ và cho người ta quen dần với nó là việc làm cần sự nhất quán, kiên định và có tầm. Nhưng nước ta dở thế này: nếu ông khen dân tộc, khen quá thì không sao, nếu chê đúng thì người ta bảo chuộng ngoại, coi thường truyền thống. Tức là tự do tư tưởng trong nghệ thuật cũng như trong chính trị đều thiếu. Không có tự do thì không thể có chân lí được. 
Xin trân trọng cảm ơn ông và chúc ông mạnh khỏe!