Thứ Năm, 7 tháng 2, 2013

Nữ hoạ sĩ Chế thị Kim Trung: sống tốt bằng nghề





Một năm đầy khó khăn với các nhà kinh doanh, vất vả với các chính trị gia, và trầm lắng hoạt động của giới showbiz Việt. Năm 2012 đã qua đi. Nhưng nhìn lại bầu trời nghệ thuật Việt, nhiều ngôi sao đang toả sáng. Thực ra, một năm trước, hai năm trước, năm năm trước, họ vẫn đứng ở đó, vẫn toả sáng, lao động nghệ thuật miệt mài, nhưng những ánh hào quang của showbiz vật chất và cuộc sống hưởng thụ theo nhịp đầu cơ được truyền thông tung hứng đã che mờ công chúng. Trong khó khăn của 2012, họ là những người gặt hái được thành công và cơ hội: Ca nương, đàn đào Phạm Thị Huệ được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian ở tuổi 39 cho những cống hiến khôi phục và giũ gìn nhạc cổ ca Trù, danh ca opere Hà Phạm Thăng Long (người Mường) – sáng chói trong Vở nhạc kịch lớn của Việt Nam cô Sao; Chế Khắc Kim Trung (người Chăm) dành được nhiều giải thưởng mỹ thuật quốc gia cho những tác phẩm thấm đẫm văn hoá Chăm,…





Mải miết và mê đắm với văn hoá đặc sắc của dân tộc mình, cộng với năng khiếu hội hoạ và bàn tay tài hoa, nữ hoạ sĩ người Chăm Chế Thị  Kim Trung là một trong số ít các nữ hoạ sĩ dân tộc thiểu số nói riêng và Việt Nam nói chung giành được nhiều giải thưởng lớn trong nước. 
Năm 2012 được đánh dấu là sự trở lại của những giải thưởng lớn đến với chị. Tác phẩm sơn dầu đồ sộ Sắc màu lễ hội Katê Chăm với tổng chiều cao 1,6m x 6,5m ăm ắp những hoa văn, những sinh hoạt văn hoá sinh động của lễ hội Katê của người Chăm Ninh Thuận đã mang đến cho nữ hoạ sĩ Chế Thị Kim Trung giải A duy nhất của Hội  Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam và giải thưởng Xuất sắc trong năm của Hội Liên hiệp VHNT Việt Nam. Trong mười năm từ 2002  đến 2012 chị có đến 17 giải thưởng cấp Quốc gia. Hầu hết các tác phẩm của chị đều mang một đề tài lớn đó là văn hoá Chăm, gắn với các chủ đề sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, kiến trúc. 
Bắt đầu vào đời bằng nghề sư phạm, chị tiếp tục đeo đuổi đam mê hội hoạ và chuyên nghiệp mình bằng khoá học cử nhân Hội hoạ trường Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, rồi năm 2010 hào hứng nhận học bổng và theo học khoá học cao học quốc tế chuyên ngành Nghệ thuật thị giác tại Thái Lan. Với chị 2012 là một năm bận rộn đi lại giữa Việt Nam và Thái Lan để hoàn thành khoá học Thạc sĩ vừa sáng tác và quản lí phòng tranh, còn công việc giảng dạy tại đại học Sư phạm Ninh Thuận, trường  Trung tâm dạy nghề tổng hợp Ninh Thuận, trường Trung học Ninh Thuận thì tạm ngừng nghỉ để “hoàn thành  50 tín chí , 60 tác phẩm cho khoá luận tốt nghiệp. Sắc màu lễ hội Katê Chăm sẽ là một trong 60 tác phẩm cùng một chủ đề mà tôi phải hoàn thiện từ nay đến tháng ba năm tới” - nữ hoạ sĩ chia sẻ.  
Phòng tranh của chị trên phố Ngô Gia Tự, thành phố Ninh Thuận rất đông công chúng. Người thì đến xem, đến ngắm, người thì đến mua, đến chơi. Và ai về cũng hồ hởi và mãn nguyện được chìm đắm trong một không gian văn hoá nghệ thuật Chăm đậm đà. Không chỉ ngắm nhìn những hoạ phẩm trưng bày, ở đây người ta còn có thể thấy mỹ thuật Chăm ứng dụng trên các sản phẩm gốm, dệt cho cuộc sống thường nhật như thế nào. 
Đó là những bình gốm, những cây đèn ngủ, đèn trang trí, những túi xách, ví thổ cẩm…. Người hoạ sĩ cười hiền, giọng nói đầy hưng phấn: “Nói chung làvới phòng tranh này tôi sống được, sống tốt bằng nghề. Ngoài thời gian giảng dạy, tôi sáng tác vẽ tranh. Chờ tranh khô thì làm gốm, làm đèn gốm….”. Vừa sáng tạo vừa nghiên cứu văn hoá Chăm nên sức sống và độ sâu văn hoá được khắc lên các tác phẩm, sản phẩm của chị một cách sống động và đầy hồn xúc.  Công chúng đến phòng tranh của chị với những nhu cầu rất khác nhau, cả người trong và ngoài nước, cả những người am hiểu nghệ thuật đến đông đảo quần chúng. “Ai mua thì mình bán, ai đến xem thì cứ xem, còn bạn bè thân thiết đến thì tặng.”. 
Còn việc học với chị chưa bao giờ ngừng nghỉ. Càng học thì càng thấy động lực học thêm nữa. Từ một cử nhân sư phạm, chị học mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh rồi học cao học tại trường quốc tế ở Thái Lan và mang trong mình một hoài ước lớn. 
 Sau hơn 10 năm theo đuổi nghệ thuật và văn hoá Chăm, ước mơ đó ngày càng lớn, càng cháy bỏng và dần dần định hình thành kế hoạch với những bước thực hiện cụ thể: đó là xây dựng một không gian văn hoá nghệ thuật Chăm tại Ninh Thuận trong năm tới. “Văn hoá Chăm hết sức độc đáo và đặc sắc. 
Mình là người Chăm, tiếp xúc hàng ngày, nghiên cứu và sáng tác hàng ngày, mình hiểu mà mình không gìn giữ và giới thiệu tới bà con thì không ai có thể làm giúp mình được”.   
Tài năng, miệt mài, bền bỉ, say mê và tha thiết với văn hoá truyền thống, đã tạo nên một con đường nghệ thuật Chế Khắc Kim Trung mà ở đó mỗi tác phẩm, mỗi sản phẩm mỹ thuật của chị chỉ là sự dừng lại đầy màu sắc văn hoá Chăm chứ chưa bao giờ là một tác phẩm đã hoàn thành.

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

HÀ PHẠM THĂNG LONG – NGÔI SAO GIẢN DỊ



Một năm đầy khó khăn với các nhà kinh doanh, vất vả với các chính trị gia, và trầm lắng hoạt động của giới showbiz Việt. Năm 2012 đã qua đi. Nhưng nhìn lại bầu trời nghệ thuật Việt, nhiều ngôi sao đang toả sáng. Thực ra, một năm trước, hai năm trước, năm năm trước, họ vẫn đứng ở đó, vẫn toả sáng, lao động nghệ thuật miệt mài, nhưng những ánh hào quang của showbiz thực dụng và cuộc sống hưởng thụ theo nhịp đầu cơ được truyền thông tung hứng đã che mờ công chúng. Trong khó khăn của 2012, họ là những người gặt hái được thành công và cơ hội: Ca nương, đàn đào Phạm Thị Huệ được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian ở tuổi 39 cho những cống hiến khôi phục và giũ gìn nhạc cổ ca Trù, danh ca opere Hà Phạm Thăng Long (người Mường) – sáng chói trong Vở nhạc kịch lớn của Việt Nam cô Sao; Chế Khắc Kim Trung (người Chăm) dành được nhiều giải thưởng mỹ thuật quốc gia cho những tác phẩm thấm đẫm văn hoá Chăm,…


Gần một nửa thế kỷ, Cô Sao - vở nhạc kịch (opera) đầu tiên của Việt Nam của cố nhạc sĩ Đỗ Nhuận, được phục dựng và trình chiếu thành công rực rỡ hai đêm tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội vào tháng mười một của năm 2012 đánh dấu một sự kiện quan trọng của âm nhạc trong nước trong năm qua đồng thời khẳng định nghệ sĩ Việt Nam cũng như nền nhạc kịch đầy tiềm lực và năng lượng phát triển dù nhiều năm qua công chúng Việt và các nhà quản lí văn hoá ít quan tâm tới. Và Hà Phạm Thăng Long, giọng nữ cao của Nhà hát Nhạc Vũ kịch Việt Nam, người đóng vai nữ chính cô Sao – đã hoàn thành xuất sắc vai diễn của mình. Trong khi nhiều người ca tụng và giới chuyên môn cho rằng, vai diễn này đã mang đến tiếng tăm và giúp tên tuổi Thăng Long nổi bần bật hơn, thì chị cười lặng lẽ: “Nghệ sĩ chúng tôi vẫn thế thôi, vẫn hằng ngày làm công việc của mình như trước đây mà công chúng và giới báo chí không để ý đến”.
 Gặp chị một ngày cuối năm, tắc đường, lạnh giá, ngay gần căn hộ tập thể 50m2 chị ở cùng gia đình nhỏ của mình, tôi thực sự bất ngờ. Bởi lẽ miên man trên quãng đường dài từ phố Trần Quốc Toản sang Mai Dịch Cầu Giấy giờ cao điểm để gặp chị sau ngày làm việc, tôi cứ hình dung sẽ gặp một nữ nghệ sĩ nhạc kịch lớn, chị sẽ mặc một chiếc váy cầu kỳ, đeo nhiều vòng xuyến, hoặc một phong cách đậm chất nghệ sĩ như những ngôi sao mà tôi từng gặp. Và bởi tôi bị ám ảnh bởi những lời nhận xét của nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam: “Ca sĩ giọng Soprano Hà Phạm Thăng Long thuộc thế hệ trẻ được đào tạo cơ bản, và trải qua thực tế biểu diễn nhiều tác phẩm lớn của các nhạc sĩ kinh điển thế giới.Để đảm bảo một vai diễn chính trong suốt 2 tiếng đồng hồ, không phải ca sĩ nào cũng làm được. Thăng Long là một trong số ít ca sĩ Việt Nam và khu vực có thẻ đaả đương sứ mạng nghệ thuật nặng nề và vinh dự này. Việc chọn ca sĩ Thăng Long vào vai cô Sao là chính xác. Với ưu điểm về chất giọng, cường độ và sức biểu cảm, ca sĩ đã hoá thân vào cuộc đời nhân vật cô Sao thế kỷ 21. Thăng Long là một nghệ sĩ chuyên nghiệp cả trong chuyên môn cũng như trong lao động nghệ thuật. Vì không thể có vị trí nhàn nhã, đủng đỉnh hay qua loa trên sân khấu nhạc kịch. ...”
Đón tôi ở cổng khu tập thể là một người phụ nữ quá đỗi giản dị và mộc mạc. Chị mặc một cái áo khoác trắng dài và đi đôi bốt cổ cao, kiểu cách và màu sắc chẳng có gì nổi bật. Thú nhận với chị, tôi cứ nghĩ chị là một nữ danh ca opera nổi tiếng nhìn sẽ rất đặc biệt, rất lộng lẫy. Còn chị cười phá lên: “Mọi người vẫn bảo tôi sống đơn giản quá, nhưng tôi thích vậy, thích được là chính mình, không tô vẽ, trang điểm. Nhưng khi ở sân khấu bạn sẽ thấy tôi khác nhiều đấy. 'Ngoài đời thì thích đơn giản và tôi luôn thích được là chính mình”.
“Được ba dạy ca hát từ bé, đến sau này khi học trong nhạc viện hay học cao học tôi vẫn thấy có nhiều điểm về kỹ thuật thanh nhạc của các thầy cô cũng giống ba tôi đã từng dạy khi xưa.”- vậy là, với chị, thanh nhạc như một khả năng thiên bẩm. Về Nhà hát từ năm 1997, từ đây chị tiếp tục đi học, và phấn đấu từ cử nhân đến thạc sĩ – cũng hết 15 năm, rồi từ thành viên dàn hợp xướng rồi trở thành solist cho các vở diễn lớn. Bước chân lập nghiệp đúng vào lúc điều kiện và hoàn cảnh kinh tế khó khăn chung của giới nghệ thuật miền Bắc trong giai đoạn đầu dỡ bỏ bao cấp, bước vào cơ chế thị trường, cho đến năm 2006 Nhà hát mới tiếp tục dựng lại vở nhạc kịch Cosifantutte của Mozart và chị được giao vai solist đầu tiên của mình trong vở nhạc kịch này. Mặc dù trước đó, năm 2004 và sau này là 2007, chị là nghệ sĩ Việt Nam duy nhất được mời tham dự cuộc thi opera tại Mỹ.
Mặc cho công chúng ít quan tâm đến nhạc kịch và nhạc kịch nước nhà bước chậm rãi, chậm rãi nhiều khi như dừng lại, Thăng Long vẫn bền bỉ đi theo con đường của mình. Bằng lòng với cuộc sống hiện tại, lương công chức Nhà hát không đủ sống, chị đi dạy thêm tại các trường Nghệ thuật, rồi nhiều sinh viên các trường dù đã có giáo viên hướng dẫn vẫn đến gặp chị xin theo học. Bất cứ khi nào có chuyên gia nước ngoài đến liên kết dựng vở hay giảng dạy, chị đều theo học tích cực, có lời mời tham gia diễn vở ở nước ngoài chị thu xếp công việc đi ngay cho dù phải xa gia đình vài tháng.   
Luôn học hỏi và tích cực học hỏi, cọ xát như là ý thức làm việc thường trực. Rèn luyện và tu cho mình một bản lĩnh nghề nghiệp để khi đứng trước sự băn khoăn của nhiều người về khả năng của ca sĩ đảm nhiệm vai nữ chính Cô Sao, Thăng Long khẳng định “tôi rất tự tin làm nghề” và “đợt trình diễn "Cô Sao" sắp tới sẽ là câu trả lời chính xác nhất cho những người chưa biết về opera Việt Nam.”.  
Bình thường một vở nhạc kịch mới hay dựng lại, Nhà hát Nhạc Vũ Kịch phải dựng và luyện tập cả nửa năm, Cô Sao chỉ được thực hiện trong hơn 2 tháng. Vào vai nữ chính trong một vở nhạc kịch đồ sộ với 1000 trang tổng phổ, diễn 2 giờ đồng hồ với nhiều aria (hát) và thoại, Thăng Long hầu như không có sự hướng dẫn nào về thanh nhạc với ngôn ngữ tiếng Việt triền miên thanh điệu trúc trắc và âm cuối tắc/đóng cũng là một câu trả lời về tài năng và thái độ làm việc của chị và đồng nghiệp. 
Chị đã không làm khán giả thất vọng, đằng sau sự thán phục và thành công của vở nhạc kịch đó, Thăng Long đã mang đến cho khán giả một niềm tin vào nền âm nhạc và nghệ thuật nước nhà bằng sự cống hiến của người nghệ sĩ chân chính lao động lặng thầm.

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

NSGD PHẠM THỊ HUỆ: NGƯỜI GIỮ HỒN NHẠC CỔ




 Nhật ký , 17/6/1996.
....Bước chân ra khỏi phòng thi, đằng sau tôi là những tiếng vỗ tay, ồn ào những lời chúc mừng. Trên tay tôi, những bó hoa còn đang rưng rưng xúc động. Tôi muốn thoát ra khỏi tất cả những gì vừa diễn ra. Thế là hết 15 năm học!
Tôi ngồi thừ ra, một mình trong phòng với cây đàn tỳ bà trong tay, biết bao tháng ngày đàn đã cùng tôi miệt mài đi tìm hồn dân tộc. Khi gặp chuyện rủi ro đàn đã khóc cùng tôi và cả bây giờ nữa khi không biết ai sẽ cần đến tôi và người bạn tri âm này. Chẳng ai muốn nghe đàn cất lên những âm thanh trầm bổng, những ngón đàn được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Mà tôi cũng chỉ mới nhặt nhạnh được vài mẩu rơi vãi của các nghệ nhân. Còn cả một kho báu khổng lồ tôi chưa hề được học, chẳng biết mình có duyên tìm được và giữ lại một phần nhỏ của kho tàng ấy hay không. Tôi đã khao khát có được hồn nhạc truyền đời, và tôi biết tôi sẽ còn khát khao mãi mãi. ...Câu hỏi ''bạn sẽ làm gì với tấm bằng cử nhân trong tay?'' chợt thoáng trong đầu. …  Nếu chúng ta chỉ cần đàn ở nhà hàng để kiếm sống, chỉ cần đi diễn nước ngoài với vài bài tủ. Ai sẽ là người tìm tòi, gìn giữ và tiếp tục sáng tạo nên âm nhạc đang có nguy cơ bị thất truyền?
Giờ đây tôi đã nộp đơn xin ở lại trường và đang chờ quyết định xét duyệt. Niềm ao ước của tôi là được ở lại trường, tôi sẽ tiếp tục đi tìm những ngón đàn của ông cha và sẽ truyền lại cho thế hệ sau. Đó là trái tim và trí lực của tôi, thời cơ và may mắn đó có đến với tôi hay không, còn phải chờ xem đã....”
 

......…..

Cứ thứ 3, thứ 5 thứ 7, ngôi nhà cổ số 28 Hàng Buồm lại nhộn nhịp người Tây, người ta cả già và trẻ nhẹ nhàng đi vào, đi ra. Thấp thoáng trong ngôi nhà đó, bóng một thiếu phụ trẻ có khuôn mặt hoa da phấn xinh đẹp và đôi mắt buồn luôn phảng phất nét phiêu diêu. Chị là Nghệ nhân Phạm thị Huệ, cũng là người quản lí và đào tạo các ca nương trong giáo phường Ca Trù Thăng Long. Là cô nữ cử nhân xuất sắc đàn Tỳ Bà, học viện Âm nhạc Hà nội ngồi ôm đàn trong đêm tốt nghiệp viết những dòng nhật ký đầy suy tư và khao khát. Mười hai năm đã qua, giờ cô cử nhân ấy là nghệ nhân dân gian, đào nương, đào đàn, thạc sĩ, chủ nhiệm giáo phường ca trù Thăng Long - một trong những giáo phường ca trù hoạt động tích cực nhất hiện nay. Tài sắc vẹn toàn, tài năng hiếm có vừa là ca nương vừa kép đàn như Phạm Thị Huệ cũng là xưa nay hiếm trong Ca Trù.
Tháng 6 năm 2006, lễ “mở xiêm y” cho đào/kép của phường Ca trù tưởng như chỉ còn trong trang sách đã xuất hiện trở lại sau 60 năm vắng bóng biệt tăm. Đệ nhất ca nương Nguyễn Thị Chúc và đệ nhất đàn kép Tứ kỳ Nguyễn Phú Đẹ đã đứng ra chủ trì “mở lễ xiêm y” cho học trò  Phạm Thị Huệ chính thức trở thành ca nương, kép đàn, được phép diễn xướng độc lập. Lần đầu tiên, Ca Trù xuất hiện một nghệ sĩ thanh sắc vẹn toàn hát hay đàn giỏi.
 Nghệ nhân dân gian, đệ nhất danh ca của thế kỷ XX, Nguyễn Thị Chúc nhớ lại “Tuần ba buổi, Huệ đi xe đến tận nhà tôi xin học. Chỉ học trong vài tháng, Huệ đã thuộc hết các bài. Tuy còn phải tập luyện nhiều nhưng bấy nhiêu thôi cũng cho thấy cô ấy là tài năng ca Trù thiên bẩm. Dần dà tôi hiểu rằng Huệ sinh ra và sống vì ca Trù chứ một chữ tâm huyết thôi chưa đủ”. Còn danh cầm đàn đáy Tứ Kỳ hay người của những ngón đàn tuyệt chiệu - nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ luôn cười hài lòng vì ở tuổi 82 ông mới nhận được một truyền nhân lại là người học trò “có bàn tay vàng” rất dỗi chăm chỉ, ròng rã ba tháng liền đi đi về về cả trăm cây số xuống nhà ông theo học.
Tháng tám năm đó, ca nương Phạm Thị Huệ cùng hai người thầy của mình lập ra câu lạc bộ ca trù Thăng Long với mong muốn đưa ca trù tới đông đảo khán thính giả và đào tạo lớp ca nương, kép đàn kế cận. CLB Ca Trù Thăng Long đã thu hút được nhiều học trò trẻ tuổi và ngày được nhiều khán giả biết đến. Mong muốn khôi phục lại nhạc cổ, tìm về nhạc cổ nguyên vẹn thể hiện ở mốc son mà Ca Trù Thăng Long đã làm được đó là đưa nghệ thuật Ca trù về cửa đình trình diễn. Định kỳ hàng tuần, bầu đoàn đào nương, kép đàn CLB Ca trù Thăng Long biểu diễn và truyền dạy tại đình làng Cống Vị (Ba Đình) thu hút thêm nhiều khán giả đến với Ca trù và CLB.  "Từ không gian Hát cửa đình, đến thế kỷ 19 mới phát sinh không gian ca quán. Hát cửa đình là một trong những hình thức diễn xướng chính thống và lớn nhất của ca trù." (nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền). Với những đêm diễn ở Đình làng Cống Vị, CLB Ca trù Thăng Long đã mở một "lối đi ngược" ý nghĩa - đưa Ca trù từ ca quán trở lại với không gian Hát cửa đình. Hoạt động lặng lẽ và da diết như thanh âm đàn tỳ bà, hai năm sau ngày thành lập, CLB Ca Trù Thăng Long lại mở lễ xiêm y theo đúng trình thức cổ truyền cho bảy ca nương, kép đàn sau những năm tháng đào tạo và rèn luyện công phu. Họ đều là những người rất trẻ, tuổi đời trên dưới 20 như Thu Thuỷ, Thuỳ Chi, Kim Ngọc, Lệ Nhật…
Trong đêm biểu diễn tại đình Cống Vị để kính cúng tiền nhân khi UNESCO công bố Ca trù là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp, trong khi mọi người náo nức, hồ hởi thì Huệ nương lại không khỏi ngậm ngùi khi giữa làn điệu Cảm thu, Thét nhạc của Ca trù cổ lại chói lên tiếng loa hát nhạc mới của một cuộc hội họp gì đó ầm ĩ loa đài ở bên cạnh. "Mặc dù rất được Ban quản lý Đình Cống Vị ủng hộ và quan tâm, và chương trình đã có sự chuẩn bị trước, để chào mừng ca trù và quan họ được thế giới công nhận, nhưng vẫn thiếu một sự tôn trọng và nhường nhịn cần thiết để có được một đêm diễn theo ý muốn chúng tôi. Nhưng đó cũng là điều mà tôi thường chứng kiến trong quá trình đeo đuổi ca trù". Nghe như tiếng than thật xót xa “Nghệ thuật truyền thống vẫn chưa có được chỗ đứng trong công chúng!”.
Đau đáu một hành trình dài xuyên suốt: tìm về với nhạc cổ - di sản văn hoá dân tộc, khôi phục, bảo tồn và làm sống lại trong lòng công chúng, trong đời sống hiện đại Phạm Thị Huệ đã tự định cho mình con đường đi. Tưởng như chặng đường hiện tại làm sống lại một đời sống âm nhạc “đã đi xa quá xa đời sống hiện tại của chúng ta bây giờ” là thử thách chông gai nhất thì Huệ nương đã tìm được lối đi. Không hạn hẹp trong những bài ca cổ, và các thức, bên cạnh việc quảng bá nét đẹp của ca trù, đưa ca Trù tới gần công chúng bằng những chương trình biểu diễn đều đặn tại ngôi nhà cổ 28 Hàng Buồm, Phạm Thị Huệ đã đưa kỹ thuật thanh nhạc của ca trù ngâm, nảy những trích đoạn trong Kiều, chị cũng dùng ca trù để viết Kiều khúc cho đàn Tỳ bà độc tấu và hát. Nhìn lại những thành công nối tiếp của Ca Trù Thăng Long, từ những giải thưởng lớn trong cuộc thi Liên hoan ca trù toàn quốc (2009), giải thưởng Đào Tấn cho các nghệ nhân, bằng khen có công trong việc gìn giữ văn hoá cổ của Bộ Văn Hoá, Thể Thao, và Du lịch,…trở thành giáo phường Ca trù Thăng Long hoạt động theo các chuẩn mục luật lệ, tục xưa, đến danh hiệu Nghệ nhân dân gian do Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam trao tặng (năm 2012…thì ánh hào quang ấm áp đã xua đi nhiều chông gai và thử thách. Tài năng và định mệnh gắn ca Trù, nghệ nhân dân gian Phạm Thị Huệ đang từng bước đưa Ca trù - một nét đẹp của văn hoá truyền thống Việt Nam, đến với công chúng trong nước và quốc tế.
Hà nội những ngày đầu năm 2013, 
Trần Nga

Tìm hiều thêm thông tin về CLB ca trù Thăng Long tại: www.catruthanglong.com