Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012
CÁNH DIỀU 2011: QUY CHẾ ĐÃ THAY ĐỔI
Đến hẹn lại lên, Ngày điện ảnh và Lễ trao Giải thưởng Cánh diều 2011 năm nay được tổ chức tại Hà Nội.Tuy nhiên Ban tổ chức – Hội điện ảnh Việt nam tỏ ra khá thận trọng trong việc mời ban giám khảo (BGK) và kín kẽ trong những thông tin công bố trước Lễ trao giải Cánh diều được tổ chức vào ngày 17 tháng 3 tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô – Hà Nội và truyền hình trực tiếp trên VTV2.
Danh tính 36 thành viên BGK được giữ kính như bưng, chỉ các trưởng ban giám khảo được nêu danh nhưng số liên lạc đều bị từ chối cung cấp trong thời gian chấm giải. Diễn giải cho điều này, ông Đặng Xuân Hải, chủ tịch Hội điện ảnh cho biết “Danh sách BGK bí mật theo yêu cầu của các thành viên BGK. Mời BGK không dễ dàng, nhiều người từ chối và nhiều người ra điều kiện không tiết lộ danh tính cho đến khi trao giải xong. Do đó chỉ công bố danh tính trưởng ban giam khảo không kèm theo liên hệ”. Đến gần giờ G thông tin từ những nhà cầm cân nảy mực đánh giá về xu thế, chất lượng phim và những câu chuyện ngoài lề chấm giải vẫn khá im ắng.
Ngược lại khi tiếp cận ông Đinh Trọng Tuấn, trưởng ban giám khảo giải Báo chí – Phê bình điện ảnh (độc lập với Hội đồng giám khảo Giải Cánh diều), lại nhận được những chia sẻ khá cởi mở. Ông Tuấn đánh giá cao phim Mùi cỏ cháy song ông cũng cho rằng giải Cánh diều năm nay sẽ là cuộc cạnh tranh nhiều thú vị và không dễ dàng để tìm được phim trao giải: “Năm nay phim đa dạng về thể loại và đề tài: Cách mạng, hài, kinh dị, đa dạng, tâm lý – hành động – xã hội,…..Còn về chất lượng thì phim Nhà nước đặt hàng như Mùi cỏ cháy, Tâm hồn mẹ hay phim tư nhân như Hotboy nổi loạn, Lời nguyền huyết ngải, Đó hay đây… chất lượng cũng khá tốt. Giải cánh diều năm nay sẽ là cuộc cạnh tranh thú vị. Trong từng thể loại đều có phim khá. Nhưng tìm ra một phim để trao giải năm nay sẽ là khó. Tôi nghĩ rằng BGK báo chí còn khó hơn BGK cánh diều vì các nhà báo rất độc lập, và thuyết phục nhau cũng sẽ rất khó. Nhưng cá nhân tôi vẫn đánh giá cao phim Mùi Cỏ Cháy."
Nếu như tiêu chí và cơ cấu giải thưởng không có gì thay đổi so với những năm trước, thì điểm nổi bật năm nay chính là sự thay đổi trong quy chế dự thi. Quy chế quy định phim dự giải phải có một trong những thành phần chính như đạo diễn, biên kịch, họa sĩ, quay phim, diễn viên chính,… là hội viên hội điện ảnh Việt nam từ 2010 trở về trước được xóa bỏ. “Đứng trước xu thế xã hội hóa điện ảnh thì các thành phần kinh tế và công dân và khán giả yêu thích điện ảnh đều phải có thể tham gia. Và Hội điện ảnh với tư các một hội tổ chức chính trị xã hội, nghề nghiệp lớn phải thu hút và tổ chức được giải thưởng theo những nhu cầu đó.” – Ông Hải nói.
Tuy nhiên sự linh hoạt của Hội Điện ảnh trong việc thay đổi quy chế này âu cũng là điều phải thuận theo xu thế. Nhìn vào danh sách phim truyện điện ảnh – thể loại chính và thu hút nhất của một giải thưởng điện ảnh thì chỉ có 2/12 bộ phim (Mùi Cỏ cháy – đạo diễn Nguyễn Hữu Mười và Tâm hồn mẹ - đạo diễn Phạm Nhuệ Giang) của hãng phim nhà nước duy nhất tham dự - Hãng phim truyện Việt nam. Nói một cách khác, sự thay đổi này đã cứu cánh cho Giải thưởng năm nay.
Đứng trước sự áp đảo của dòng phim được coi là phim thị trường, dù Ban tổ chức và công chúng có hân hoan bao nhiêu trước mặt tích cực được nhìn nhận là thành công bước đầu của hành trình xã hội hóa điện ảnh thì không khỏi lo lắng cho nền điện ảnh nước nhà. Bởi lẽ một giải thưởng chính thống cũng như một nền điện ảnh chính thống không thể dựa vào dòng phim thị trường chiều theo thị hiếu.
cảnh trong phim Mùi cỏ cháy
“Cá nhân tôi là người sáng tác tôi thích những đề tài thiên về biển đảo, chiến sĩ,… về những điều lớn lao trong cuộc sống. Phim điện ảnh cần định hướng để không chạy theo thị trường quá mức, như năm ngoái thì toàn phim đồng tính, năm nay thì lại toàn ma quái,… Làm sao trong những năm tới công chúng xem phim thấy muốn sống hơn, lạc quan hơn sau thời gian lao động vất vả, mệt mỏi. Tôi muốn thấy cái nhân văn nó xuất hiện nhiều hơn trong phim.” – nhà biên kịch Hồng Ngát, trưởng ban tổ chức giải Cánh diều 2011 chia sẻ.
Kỷ niệm Ngày điện ảnh năm nay, Ban tổ chức thực hiện chiếu phim miễn phí tại các trung tâm điện ảnh địa phương trên khắp các tỉnh thành bộ phim Thương Nhớ đồng quê của NSND Đặng Nhật Minh, Đường về quê mẹ của đạo diễn, NSND Bùi Đình Hạc - và bộ phim tài liệu Đường dây lên sông Đà- của cố đạo diễn Lê Mạnh Tích. Riêng tại Hà Nội, chiếu giới thiệu miễn phí tất cả 12 phim truyện điện ảnh dự giải Cánh diều 2011.
Tên và nhà làm phim 12 bộ phim truyện điện ảnh tham dự giải Cánh diều 2011: Mùi cỏ cháy, Tâm hồn mẹ - Hãng phim truyện Việt Nam; Hotboy nổi loạn, Lệ phí tình yêu - BHD và hãng phim Việt; Lời nguyền huyết ngải, Long Ruồi – cty phim Thiên Ngân và Hãng phim việt, Helo cô Ba – Cty CP đầu tư giải trí Phước Sang; Lệnh xóa sổ - cty TNHH Hoàng Trần phim; Vũ điệu đường cong – WE entertainment; Ngôi nhà trong hẻm –cty TNHH Sáng tạo; Sài gòn YO – hãng phim Chánh Phương; Đó hay đây của nhà làm phim độc lập, Síu Phạm.
Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012
AYU UTAMI – QUÝ BÀ CỦA VĂN HỌC INDONESIA ĐƯƠNG ĐẠI*
Một thập kỷ trước, tất cả mọi người trên sân khấu văn học Indonesia đã nói về nó – một số người với sự ngưỡng mộ nhiệt thành, một số khác với thái độ thù địch sốt sắng. Nó được mệnh danh là sastra wangi hay “văn học hương thơm”- fragrant literature, bởi vì nhánh văn học mới mẻ này đã phục vụ cho phụ nữ với những mối quan tâm hiện đại của họ - làm đẹp, ăn diện, tình dục – và vì chúng đào sâu vào những vấn đề bị coi là cấm kỵ. Nhà phê bình Maggie Tiojakin đánh giá về khả năng sastra wangi sẽ làm nên một ấn tượng dài lâu trong nền văn học Indonesia. Và một trong những nhân vật được nói tới nhiều nhất của dòng văn học này đó là nữ văn sĩ Ayu Utami.
Vào một ngày thứ bảy trời mưa, Ayu Utami tới Salihara, trung tâm nghệ thuật cộng đồng đặt tại Pasar Minggu phía nam Jakarta, trong chiếc quần bó và giày cai gót. Cô có mái tóc đen dài thả xuống hai vai. Nhìn Ayu không giống một khuôn mẫu văn học uyên bác mà giống một phụ nữ Indonesia trẻ trung, thời trang, sành điệu và hiện đại
Song tất nhiên, cô là sự trộn lẫn của cả hai điều đó. Cô là tác giả của Saman,cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1998 được coi là một điềm báo kinh ngạc trong bối cảnh văn học Indonesia thời đó. Tiếp sau Saman là Larung và Bilangan Fu…những tác phẩm văn học luôn khuấy động dư luận và định hình phong cách nhà văn Ayu.
“Văn phong tươi mới đậm đà, một thế giới thoát khỏi những tác phẩm văn học đầy rẫy sự ù lì nghiêm trang, lan man những số liệu, nhân vật tôn kính, hoặc sự lãng mạn hay cường điệu mà người ta trông đợi ở phụ nữ.” - (tạp chí Newsweek, 2005 – Mỹ)
Sinh ra ở Bogor, miền tây Java vào ngày 21 tháng 11 năm 1968, cái tên Ayu Utami đã nổi tiếng khắp đất nước Indonesia sau khi cuốn tiểu thuyết Saman của cô giành giải thưởng Cuốn tiểu thuyết hay nhất của năm 1998 do Viện Nghệ thuật Jakarta phong tặng.
Ayu đã từng đoạt giải nhất cuộc thi sắc đẹp Quốc gia nhưng cô không theo đuổi sự nghiệp người mẫu vì cô “không thích trang điểm và mỹ phẩm”. Ngay từ thời sinh viên khoa ngôn ngữ Nga và văn học của trường Đại học Indonesia (IU), cô đã là biên tập viên và cây xã luận của nhiều ấn phẩm xuất bản. Ayu cũng đã xuất bản những bài xã luận của mình trong cuốn sách có tựa đề Parasit Lajang (vật ký sinh đơn lẻ)
Ayu được thời báo Jakarta (Indonesia) coi là nữ nhà văn đầu tiên dám cởi mở bình luận về tình dục và quan hệ tình dục, một lĩnh vực vẫn được coi là cấm kỵ với phụ nữ ở Indonesia, một đất nước có người Đạo Hồi lớn nhất thế giới. Nhiều nhà phê bình và độc giả đã thốt lên rằng “Khi đọc tác phẩm của Ayu giống như ngắm nhìn lại bức chân dung Indonesia vậy”.
Nhiều năm hoạt động báo chí, Ayu am hiểu sâu sắc phong tục, văn hóa cũng như bối cảnh lịch sử, chính trị đất nước mình.
Hiện nay, cô vừa làm cho tạp chí Keadilan vừa là thành viên sáng lập Hội nhà báo Độc lập Alliance, đồng thời là phát thanh viên, biên tập viên cho đài phát thanh 68GH, phát tin tức hàng ngày khắp đất nước.
Từ Saman mãnh liệt….
Tình dục – từ nhận thức của một phụ nữ- là một chủ đề mãnh liệt bên cạnh chủ đề Chính trị nổi bật và xuyên suốt trong cuốn tiểu thuyết Saman và tập tiếp Larung. Với sự trộn lẫn bối cảnh và tình huống chính trị và đánh thẳng vào tình dục, quan hệ tình dục, Saman được ca ngợi như một công cuộc tiên phong, phản chiếu sự hoàn toàn thay đổi thời cuộc sau sự sụp đổ của chế độ độc tài Soeharto, cũng như sự thay đổi của người phụ nữ Indonesia hiện đại mà Ayu đại diện.
Saman đã được dịch ra tiếng Hà Lan ba năm sau khi xuất bản (1998) và sang tiếng Anh (2005).
Một vài nhà phê bình văn học đã tán thưởng ngôn ngữ phong phú của cuốn tiểu thuyết trong khi một số khác lại phê phán cô đã sử dụng những từ chỉ bộ phận sinh dục, bao cao su và cực khoái,… “quá đà”.
Nói về điều bị coi là “quá đà” này, Ayu cho rằng: “Có thể, sự thật là tôi đã bình phẩm vô độ về quan hệ tình dục. Nhưng, cái gì là quá mức, là vô độ? Đối với tôi, sự vô độ là cần thiết khi chúng ta buộc phải phá vỡ, xuyên qua những hạn chế bị lờ đi không bàn luận tới. Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đàn ông bàn luận vô độ về về tình dục hàng thập kỉ qua, từ cái ngày truyền thông xuất hiện. Những sự bàn luận về tình dục của nữ giới (quan điểm) là cần thiết. Tất nhiên, mọi cuộc đầu tranh hay cách mạng sẽ được nhìn nhận như là một sự vô độ của những người mong muốn duy trì tình trạng hiện thời. Soeharto cũng đã từng làm như vậy. Nó cũng xảy ra khắp nơi.
Một lần, tôi đã phê phán tạp chí Gay Nusantara vì nó luôn nói về chủ đề tình dục, rằng điều đó làm nó giống như một tạp chí khiêu dâm cho giới đồng tính. Chẳng lẽ chẳng có gì dành cho những người đồng tính ngoài tình dục? Sau đó tôi đã nghĩ ngược lại và đã nhận ra rằng tình dục vẫn là một cuộc đấu tranh của người đồng tính. Vì vậy, nó cũng dành cho tôi. Tình dục vẫn là vấn đề của phụ nữ thậm chí còn quan trọng hơn cả đối với đàn ông. Vì vậy chúng ta cần phải viết về nó, đấu tranh vì nó.”
Indonesia là một đất nước mà người dân theo đạo Hồi chiếm đến 82%. Đối với một xã hội gia trưởng, bình luận về tình dục vẫn là một điều cấm kỵ. Tuy nhiên Ayu Utami lại cho rằng coi tình dục là điều cấm kỵ chỉ là trò đùa, “ bởi những gì tôi viết chẳng hề thô thiển hơn những bức tranh hoặc những câu chuyện hiếp dâm đầy rẫy trên các phương tiện đại chúng. Nhưng tôi đã làm rõ hơn đối tượng và vấn đề ở đây là người phụ nữ và đối tượng bị khai thác. Đó chính là điều bị xem là cấm kỵ”.
Xuất hiện vài tháng sau khi tổng thống Suharto bị lật đổ cùng Chính sách Trật tự mới bị lên án nặng nề vì độc đoán, tham nhũng và thanh trừng chính trị đối lập; Saman không chỉ gây chú ý bởi chủ đề tình dục mà những bình luận và tình tiết chính trị trong Saman đã cho người đọc thấy bối cảnh hiện thực của Indonesia.
Phản đối kịch liệt chủ nghĩa độc đoán, quân phiệt và tính gia trưởng của xã hội, song Ayu lại thích người đàn ông ở phương diện tình dục phải có cái nhìn nhà binh. Người đàn ông có thể làm phụ nữ hạnh phúc, theo quan điểm của bà là người “có nguyên tắc và phong cách quân sự nhưng có trái tim và tình yêu tự do như một nghệ sĩ”.
ĐẾN BIANGAL FU … HUYỀN HOẶC
Nếu như Saman và Larung là sự phê phán xã hội trưởng giả và chế độ chính trị độc đoán, tham nhũng thì Biangal Fu – Con số Fu đánh thẳng vào quyền lực lớn mạnh của những tôn giáo chính thống đang gia tăng , như Mặt Trận Bảo vệ Hồi giáo, và sự gia tăng bạo lực đối với tôn giáo thiểu số, như Nho giáo trong một thập kỷ qua. “Trong mười năm qua, mọi người đã được giải thích tôn giáo trong một cách nhìn rất sai lệch và nông cạn. Tôn giáo bị lợi dụng vì cuộc sống quyền lực hoặc nhiều người đã bị lôi kéo bởi một sức mạnh khác ngoài tôn giáo. Đó là một sự phát triển đáng buồn” – cô nói.
Ayu đã dành riêng Bilangan Fu cho Erick, chồng cô. Erick là một nhiếp ảnh gia tự do, giảng viên Viện Nghệ thuật Jakarta, nhà leo núi và là nguồn cảm hứng của Ayu trong cuốn sách này.
“Tôi tặng Erick cuốn sách này. Đây là một cách tôi ghi lại hình ảnh thời trai trẻ của anh cùng với người bạn thân nhất và cô bạn gái đã mất của anh ấy”.
Theo Ayu, Bilangan Fu là cuốn sách khó viết nhất với cô, và cô phải mất khoảng bốn năm rưỡi để hoàn thành nó. “Có quá nhiều điều tôi muốn nói, những khái niệm của tôi về con số Fu và thuyết tâm linh phê phán, trong khi tôi không muốn phá hủy câu trúc của tiểu thuyết. Việc tìm kiếm một cấu trúc đơn giản cho một vấn đề phức tạp thực sự là phần việc rất khó” – cô nói.
Ayu so sánh việc viết với hành trình leo núi - “Khi leo núi, một vận động viên giỏi sẽ phải tìm được đường leo tự nhiên, chúng ta không thể phá hủy những tảng đá. Nguyên tắc viết của tôi cũng vậy, nếu ta không thể tìm được một con đường này thì chúng ta sẽ chọn cách khác. Và trong thời gian tranh đấu, chúng ta sẽ luôn tìm ra cách”.
Số Fu là một tổng thể của kiến thức lịch sử, dòng chảy mạnh mẽ của trí tưởng tượng và lối tư duy phân tích mạnh mẽ của Ayu.
“Chữ số Fu là một sự vật cụ thể mà tôi có thể công thức được. Nó là một con số có thuộc tính của cả số một và số không. Nó không chỉ là con số toán học mà còn là con số ẩn dụ, không chỉ là con số duy lý mà còn là con số của tinh thần” – cô nói – “Tôi thường dùng nó để phân tích, phê phán Nhất Thần luận”. Ayu rất hài lòng với khám phá về số Fu của mình. Cô cho rằng những truyền thống đơn thần hiểu khái niệm này một cách phi toán học “trong khi nhất thần luận thực ra đã phát triển trước khi số 0 được khái niệm hóa”.
Để hiểu khái niệm về số Fu của Ayu, điều cần thiết đầu tiên là phải hiểu lịch sử phát triển tôn giáo và lịch sử phát triển của những con số.
Khái niệm về của một vị thần trong truyền thống độc thần được bắt đầu với thần Abraham vào khoảng 4.000 năm TCN đã xuất hiện trước khái niệm số 0 được hợp nhất vào hệ thống số. Khái niệm số 0 (zero hoặc nil) lần đầu tiên được phát hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 5.
“Đó, khái niệm nil đã đến từ khái niệm sunya hoặc sự trống rỗng. Khái niệm Hệ thống chính thần trong truyền thống phương Đông được khái niệm hóa thành số nil – 0 trong khi theo truyền thống người Do Thái nó được khái niệm như là 1” – cô nói.
Số một trong truyền thống độc thần sử dụng để nhận diện vị thần, thực ra là một trong toàn thể. Tuy nhiên, chúng ta đi đến việc hiểu khái niệm một trong một cảm xúc rất toán học từ khi số 0 được tìm thấy, điều này đã dẫn đến một niềm tin độc thần toán học.
Cô hợp nhất khái niệm này thành số Fu trong cuốn sách của mình, cùng với “thuyết tâm linh phê phán”-(critical spiritualism) một khái niệm khác mà cô đã phát triển thông qua câu chuyện về một người leo núi theo chủ nghĩa hoài nghi tên là Yuda.
Ayu dùng “thuyết tâm linh phê phán”, như một phương tiện nỗ lực sử dụng tâm trí con người, sự sống trên Trái đất với cơ thể của mình và sự đấu tranh chống lại những thôi thúc từ bỏ đức tin số mệnh.
“Tôn giáo có thể tự làm mới mình. Nó giống như một thực tiễn có tính lịch sử. kết cục là những gì quan trọng thì không phải là những gì thực sự trừ những gì chúng ta làm trên Trái đất. Sự thật luôn luôn bị trì hoãn – những gì quan trọng là lòng tốt” – cô nói
Con số Fu tinh thần có một sự nhấn mạnh khác biệt với cuốn sách Saman và Larung.
Sau Con số Fu là cuốn Pengadilan Susila – Bản thử của Susila. Không giống những tác phẩm văn học trước đây của cô, Ayu coi cuốn sách mới này như một vũ khí đấu tranh chống lại những quy định đạo đức và hành vi xâm hại nữ quyền.
Chủ đề và những cách đặt vấn đề, cũng như hóa giải trong tiểu thuyết của Ayu luôn đưa người đọc đến với vấn đề xã hội đượng đại, mới mẻ. và xuyên thẳng vào những mặt trái của nó
Vào một ngày thứ bảy trời mưa, Ayu Utami tới Salihara, trung tâm nghệ thuật cộng đồng đặt tại Pasar Minggu phía nam Jakarta, trong chiếc quần bó và giày cai gót. Cô có mái tóc đen dài thả xuống hai vai. Nhìn Ayu không giống một khuôn mẫu văn học uyên bác mà giống một phụ nữ Indonesia trẻ trung, thời trang, sành điệu và hiện đại
Song tất nhiên, cô là sự trộn lẫn của cả hai điều đó. Cô là tác giả của Saman,cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1998 được coi là một điềm báo kinh ngạc trong bối cảnh văn học Indonesia thời đó. Tiếp sau Saman là Larung và Bilangan Fu…những tác phẩm văn học luôn khuấy động dư luận và định hình phong cách nhà văn Ayu.
“Văn phong tươi mới đậm đà, một thế giới thoát khỏi những tác phẩm văn học đầy rẫy sự ù lì nghiêm trang, lan man những số liệu, nhân vật tôn kính, hoặc sự lãng mạn hay cường điệu mà người ta trông đợi ở phụ nữ.” - (tạp chí Newsweek, 2005 – Mỹ)
Sinh ra ở Bogor, miền tây Java vào ngày 21 tháng 11 năm 1968, cái tên Ayu Utami đã nổi tiếng khắp đất nước Indonesia sau khi cuốn tiểu thuyết Saman của cô giành giải thưởng Cuốn tiểu thuyết hay nhất của năm 1998 do Viện Nghệ thuật Jakarta phong tặng.
Ayu đã từng đoạt giải nhất cuộc thi sắc đẹp Quốc gia nhưng cô không theo đuổi sự nghiệp người mẫu vì cô “không thích trang điểm và mỹ phẩm”. Ngay từ thời sinh viên khoa ngôn ngữ Nga và văn học của trường Đại học Indonesia (IU), cô đã là biên tập viên và cây xã luận của nhiều ấn phẩm xuất bản. Ayu cũng đã xuất bản những bài xã luận của mình trong cuốn sách có tựa đề Parasit Lajang (vật ký sinh đơn lẻ)
Ayu được thời báo Jakarta (Indonesia) coi là nữ nhà văn đầu tiên dám cởi mở bình luận về tình dục và quan hệ tình dục, một lĩnh vực vẫn được coi là cấm kỵ với phụ nữ ở Indonesia, một đất nước có người Đạo Hồi lớn nhất thế giới. Nhiều nhà phê bình và độc giả đã thốt lên rằng “Khi đọc tác phẩm của Ayu giống như ngắm nhìn lại bức chân dung Indonesia vậy”.
Nhiều năm hoạt động báo chí, Ayu am hiểu sâu sắc phong tục, văn hóa cũng như bối cảnh lịch sử, chính trị đất nước mình.
Hiện nay, cô vừa làm cho tạp chí Keadilan vừa là thành viên sáng lập Hội nhà báo Độc lập Alliance, đồng thời là phát thanh viên, biên tập viên cho đài phát thanh 68GH, phát tin tức hàng ngày khắp đất nước.
Từ Saman mãnh liệt….
Tình dục – từ nhận thức của một phụ nữ- là một chủ đề mãnh liệt bên cạnh chủ đề Chính trị nổi bật và xuyên suốt trong cuốn tiểu thuyết Saman và tập tiếp Larung. Với sự trộn lẫn bối cảnh và tình huống chính trị và đánh thẳng vào tình dục, quan hệ tình dục, Saman được ca ngợi như một công cuộc tiên phong, phản chiếu sự hoàn toàn thay đổi thời cuộc sau sự sụp đổ của chế độ độc tài Soeharto, cũng như sự thay đổi của người phụ nữ Indonesia hiện đại mà Ayu đại diện.
Saman đã được dịch ra tiếng Hà Lan ba năm sau khi xuất bản (1998) và sang tiếng Anh (2005).
Một vài nhà phê bình văn học đã tán thưởng ngôn ngữ phong phú của cuốn tiểu thuyết trong khi một số khác lại phê phán cô đã sử dụng những từ chỉ bộ phận sinh dục, bao cao su và cực khoái,… “quá đà”.
Nói về điều bị coi là “quá đà” này, Ayu cho rằng: “Có thể, sự thật là tôi đã bình phẩm vô độ về quan hệ tình dục. Nhưng, cái gì là quá mức, là vô độ? Đối với tôi, sự vô độ là cần thiết khi chúng ta buộc phải phá vỡ, xuyên qua những hạn chế bị lờ đi không bàn luận tới. Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đàn ông bàn luận vô độ về về tình dục hàng thập kỉ qua, từ cái ngày truyền thông xuất hiện. Những sự bàn luận về tình dục của nữ giới (quan điểm) là cần thiết. Tất nhiên, mọi cuộc đầu tranh hay cách mạng sẽ được nhìn nhận như là một sự vô độ của những người mong muốn duy trì tình trạng hiện thời. Soeharto cũng đã từng làm như vậy. Nó cũng xảy ra khắp nơi.
Một lần, tôi đã phê phán tạp chí Gay Nusantara vì nó luôn nói về chủ đề tình dục, rằng điều đó làm nó giống như một tạp chí khiêu dâm cho giới đồng tính. Chẳng lẽ chẳng có gì dành cho những người đồng tính ngoài tình dục? Sau đó tôi đã nghĩ ngược lại và đã nhận ra rằng tình dục vẫn là một cuộc đấu tranh của người đồng tính. Vì vậy, nó cũng dành cho tôi. Tình dục vẫn là vấn đề của phụ nữ thậm chí còn quan trọng hơn cả đối với đàn ông. Vì vậy chúng ta cần phải viết về nó, đấu tranh vì nó.”
Indonesia là một đất nước mà người dân theo đạo Hồi chiếm đến 82%. Đối với một xã hội gia trưởng, bình luận về tình dục vẫn là một điều cấm kỵ. Tuy nhiên Ayu Utami lại cho rằng coi tình dục là điều cấm kỵ chỉ là trò đùa, “ bởi những gì tôi viết chẳng hề thô thiển hơn những bức tranh hoặc những câu chuyện hiếp dâm đầy rẫy trên các phương tiện đại chúng. Nhưng tôi đã làm rõ hơn đối tượng và vấn đề ở đây là người phụ nữ và đối tượng bị khai thác. Đó chính là điều bị xem là cấm kỵ”.
Xuất hiện vài tháng sau khi tổng thống Suharto bị lật đổ cùng Chính sách Trật tự mới bị lên án nặng nề vì độc đoán, tham nhũng và thanh trừng chính trị đối lập; Saman không chỉ gây chú ý bởi chủ đề tình dục mà những bình luận và tình tiết chính trị trong Saman đã cho người đọc thấy bối cảnh hiện thực của Indonesia.
Phản đối kịch liệt chủ nghĩa độc đoán, quân phiệt và tính gia trưởng của xã hội, song Ayu lại thích người đàn ông ở phương diện tình dục phải có cái nhìn nhà binh. Người đàn ông có thể làm phụ nữ hạnh phúc, theo quan điểm của bà là người “có nguyên tắc và phong cách quân sự nhưng có trái tim và tình yêu tự do như một nghệ sĩ”.
ĐẾN BIANGAL FU … HUYỀN HOẶC
Nếu như Saman và Larung là sự phê phán xã hội trưởng giả và chế độ chính trị độc đoán, tham nhũng thì Biangal Fu – Con số Fu đánh thẳng vào quyền lực lớn mạnh của những tôn giáo chính thống đang gia tăng , như Mặt Trận Bảo vệ Hồi giáo, và sự gia tăng bạo lực đối với tôn giáo thiểu số, như Nho giáo trong một thập kỷ qua. “Trong mười năm qua, mọi người đã được giải thích tôn giáo trong một cách nhìn rất sai lệch và nông cạn. Tôn giáo bị lợi dụng vì cuộc sống quyền lực hoặc nhiều người đã bị lôi kéo bởi một sức mạnh khác ngoài tôn giáo. Đó là một sự phát triển đáng buồn” – cô nói.
Ayu đã dành riêng Bilangan Fu cho Erick, chồng cô. Erick là một nhiếp ảnh gia tự do, giảng viên Viện Nghệ thuật Jakarta, nhà leo núi và là nguồn cảm hứng của Ayu trong cuốn sách này.
“Tôi tặng Erick cuốn sách này. Đây là một cách tôi ghi lại hình ảnh thời trai trẻ của anh cùng với người bạn thân nhất và cô bạn gái đã mất của anh ấy”.
Theo Ayu, Bilangan Fu là cuốn sách khó viết nhất với cô, và cô phải mất khoảng bốn năm rưỡi để hoàn thành nó. “Có quá nhiều điều tôi muốn nói, những khái niệm của tôi về con số Fu và thuyết tâm linh phê phán, trong khi tôi không muốn phá hủy câu trúc của tiểu thuyết. Việc tìm kiếm một cấu trúc đơn giản cho một vấn đề phức tạp thực sự là phần việc rất khó” – cô nói.
Ayu so sánh việc viết với hành trình leo núi - “Khi leo núi, một vận động viên giỏi sẽ phải tìm được đường leo tự nhiên, chúng ta không thể phá hủy những tảng đá. Nguyên tắc viết của tôi cũng vậy, nếu ta không thể tìm được một con đường này thì chúng ta sẽ chọn cách khác. Và trong thời gian tranh đấu, chúng ta sẽ luôn tìm ra cách”.
Số Fu là một tổng thể của kiến thức lịch sử, dòng chảy mạnh mẽ của trí tưởng tượng và lối tư duy phân tích mạnh mẽ của Ayu.
“Chữ số Fu là một sự vật cụ thể mà tôi có thể công thức được. Nó là một con số có thuộc tính của cả số một và số không. Nó không chỉ là con số toán học mà còn là con số ẩn dụ, không chỉ là con số duy lý mà còn là con số của tinh thần” – cô nói – “Tôi thường dùng nó để phân tích, phê phán Nhất Thần luận”. Ayu rất hài lòng với khám phá về số Fu của mình. Cô cho rằng những truyền thống đơn thần hiểu khái niệm này một cách phi toán học “trong khi nhất thần luận thực ra đã phát triển trước khi số 0 được khái niệm hóa”.
Để hiểu khái niệm về số Fu của Ayu, điều cần thiết đầu tiên là phải hiểu lịch sử phát triển tôn giáo và lịch sử phát triển của những con số.
Khái niệm về của một vị thần trong truyền thống độc thần được bắt đầu với thần Abraham vào khoảng 4.000 năm TCN đã xuất hiện trước khái niệm số 0 được hợp nhất vào hệ thống số. Khái niệm số 0 (zero hoặc nil) lần đầu tiên được phát hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 5.
“Đó, khái niệm nil đã đến từ khái niệm sunya hoặc sự trống rỗng. Khái niệm Hệ thống chính thần trong truyền thống phương Đông được khái niệm hóa thành số nil – 0 trong khi theo truyền thống người Do Thái nó được khái niệm như là 1” – cô nói.
Số một trong truyền thống độc thần sử dụng để nhận diện vị thần, thực ra là một trong toàn thể. Tuy nhiên, chúng ta đi đến việc hiểu khái niệm một trong một cảm xúc rất toán học từ khi số 0 được tìm thấy, điều này đã dẫn đến một niềm tin độc thần toán học.
Cô hợp nhất khái niệm này thành số Fu trong cuốn sách của mình, cùng với “thuyết tâm linh phê phán”-(critical spiritualism) một khái niệm khác mà cô đã phát triển thông qua câu chuyện về một người leo núi theo chủ nghĩa hoài nghi tên là Yuda.
Ayu dùng “thuyết tâm linh phê phán”, như một phương tiện nỗ lực sử dụng tâm trí con người, sự sống trên Trái đất với cơ thể của mình và sự đấu tranh chống lại những thôi thúc từ bỏ đức tin số mệnh.
“Tôn giáo có thể tự làm mới mình. Nó giống như một thực tiễn có tính lịch sử. kết cục là những gì quan trọng thì không phải là những gì thực sự trừ những gì chúng ta làm trên Trái đất. Sự thật luôn luôn bị trì hoãn – những gì quan trọng là lòng tốt” – cô nói
Con số Fu tinh thần có một sự nhấn mạnh khác biệt với cuốn sách Saman và Larung.
Sau Con số Fu là cuốn Pengadilan Susila – Bản thử của Susila. Không giống những tác phẩm văn học trước đây của cô, Ayu coi cuốn sách mới này như một vũ khí đấu tranh chống lại những quy định đạo đức và hành vi xâm hại nữ quyền.
Chủ đề và những cách đặt vấn đề, cũng như hóa giải trong tiểu thuyết của Ayu luôn đưa người đọc đến với vấn đề xã hội đượng đại, mới mẻ. và xuyên thẳng vào những mặt trái của nó
Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012
TRIỂN LÃM XONG RỒI TÁC PHẨM ...VỀ ĐÂU?
“May quá, em gửi được bác Trần Dân Tiên, con ngựa gỗ này. Ngôi nhà của bác ấy rất rộng và có một phòng để không…. Thu Vân mừng rỡ thông báo với bạn sau cuộc triển lãm sắp đặt Icarooh của cô. Quả thật tìm một chỗ cho con ngựa gỗ nặng 200 kg với đôi cánh sưng phồng dài bốn mét không phải dễ dàng chút nào ở đất Hà Nội. Còn những tảng đá em sẽ nhờ người ta tháo bóng đèn ra và đập đi….
Chỉ trước đó vài ngày, tác phẩm Tảng đá đó được giới truyền thông ca tụng là … Hơn 700 bóng đèn nhỏ được luồn từ dưới những tảng đá, ngoi lên và toả sáng lấp lánh như những viên ngọc trai khổng lồ. Dù rất sáng và nóng khi lại gần nhưng người ta không cảm thấy ấm áp. Không khí bưng bức của cuộc chiến chen lấn và ham muốn về cuộc sống tự do, tự nhiên đang diễn ra giữa bê tông và ánh sáng trong sự tương phản về màu sắc gây choáng ngợp... Câu hỏi được đặt ra là đằng sau những cuộc trưng bày hoành tráng, công phu và nhiều lời ca tụng, những tác phẩm nghệ thuật đương đại không biết … về đâu?
Nghệ thuật thị giác liệu có bền hơi!?!
Hai, ba năm gần đây, sự xuất hiện dày đặc của những triển lãm trưng bày tác phẩm theo xu hướng nghệ thuật sắp đặt hay thị giác,… đã khiến chúng dần trở nên quen thuộc đối với công chúng Việt Nam ở các thành phố lớn. Sự lạ mắt, kỳ dị hay đẹp lạ lùng của các tác phẩm cũng ít nhiều mê hoặc và làm người xem suy nghĩ cũng như tìm hiểu về loại hình mới này. Trong khi giới phê bình và hoạ sĩ có những quan niệm và đánh giá khác nhau: dè chừng, phê phán, khen ngợi,… thì càng ngày, những triển lãm và trưng bày chuyên nghiệp, quy mô của những hoạ sĩ được đào tạo bài bản, có nhiều trải nghiệm giao lưu quốc tế đã phần nào khẳng định nghệ thuật thị giác, hay sắp đặt…thực sự là một phương thức biểu đạt cảm xúc, cảm hứng mới đầy hiệu quả cho phép người nghệ sĩ thăng hoa trí tưởng tượng nhờ sự phóng túng trong sử dụng chất liệu, không gian và hình thể. Và rõ ràng, ngoài toan và những mảng màu, hoạ sĩ còn có thể sáng tạo những tác phẩm bằng những chất liệu khác nhau và xây dựng những không gian riêng cho tác phẩm của mình.
Hiện nay, nghệ thuật thị giác khá thu hút giới hoạ sĩ trẻ Việt Nam song theo đuổi nó quả là một thách thức lớn. Song, Nghệ thuật thị giác mới chỉ dừng lại như những liveshow đối với người hoạ sĩ. Phần nhiều phụ thuộc dự án tài trợ, những nghệ sĩ giàu có hơn thì lâu lâu làm một cuộc trưng bày chung cho vui. Ba bốn năm trước, sự thực đã có một số cuộc trưng bày cá nhân chuyên nghiệp và gây được cảm tình cũng như ấn tượng lớn đối với người xem như Bốn Mùa của Đào Châu Hải, Giang của Lý Trần Quỳnh Giang hay Một Bọn của Nguyễn Thuý Hằng, Bụi, xe mờ bóng phố của Bằng Nhật Linh
...
Sáng tác xong rồi tác phẩm bày đâu?
Để chuẩn bị cho một cuộc trưng bày cá nhân được đánh giá cao như vậy, không tính đến những tác phẩm trưng bày gây được cảm xúc và hiệu ứng nghệ thuật mà người nghệ sĩ dày tài và dày công sáng tạo, thể hiện trong nhiều tháng, năm, sự đòi hỏi về mặt không gian và ánh sáng rất công phu cũng như những phương tiện kỹ thuật công nghệ hiện đại khác hỗ trợ như hệ thống ánh sáng, máy chiếu.
Khi quyết định làm một trưng bày cá nhân, hoạ sĩ thị giác thường phải tự lo từ a-z, từ khâu sáng tác đến công việc chuẩn bị triển lãm, đến mặt bằng trưng bày và sa xỉ hơn nữa là cất những tác phẩm dày công đó ở đâu.
Trước hết về không gian, theo cuaro Trần Lương, hiện nay ở Việt Nam không có một không gian nào đủ điều kiện hay tiêu chuẩn cho trưng bày nghệ thuật thị giác hay sắp đặt. Hiện có một không gian đạt tiêu chuẩn ấy lại không được sử dụng cho việc trưng bày mỹ thuật đương đại mặc dù người ta đã bỏ hàng tỷ đồng để xây dựng lên. Đó là khu “hội trường- lớp học” trong khuôn viên trường đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh. Từ khi được xây dựng đến nay chỉ một lần duy nhất được sử dụng đúng theo mục đích, còn sau đó trở thành những lớp học cho học viên của nhà trường.
Trường Đai học Mỹ thuật Hà Nội cũng khá mạnh dạn liên kết với một công ty tư nhân mở ra trung tâm Nghệ thuật Việt- Vietart, làm nơi trưng bày triển lãm nghệ thuật. Song hầu như tất cả các cuộc trưng bày nghệ thuật thị giác ở đây đều được giới phê bình và curao đánh giá là quá nhỏ, quá thấp,…Khổ nỗi, điều kiện có hạn, có còn hơn không. Một Vietart nhỏ, trưng bày các loại nghệ thuật chứ đâu dành riêng cho thị giác hay một loại hình mỹ thuật nào. Bà Minh Hà, giám đốc trung tâm cho biết: “Chúng tôi và Nhà trường cũng biết vậy và đã cố gắng hết sức, nhưng điều kiện có hạn, không gian này cũng đạt những tiêu chuẩn nhất định rồi. Mới hoạt động được hai năm, nhưng trung tâm chúng tôi không có ngày nào trống cả.”
Triển lãm xong rồi…tác phẩm để đâu?
Khi mà người ta chưa bỏ tiền mua những tác phẩm thị giác thì việc có một bảo tàng mỹ thuật đương đại, hay chí ít là nơi lưu giữ, bảo quản những tác phẩm mỹ thuật đương đại được đánh giá cao là chuyện sa xỉ.
Sau khi cuộc triển lãm khép lại, những lời ca tụng thành công gây hiệu ứng, báo chí ca tụng, công chúng trầm trồ,…thưa dần thì cũng là lúc hoạ sĩ đau đáu một nỗi niềm mới: đem những tác phẩm này đi đâu. Thật thảm thương cho cả tác phẩm và hoạ sĩ.
Ngay trong buổi khai mạc trưng bày tác phẩm “Một bọn”-Nguyễn Thuý Hằng đã than thở “Khi mà chưa có một nơi để trưng bày, lưu giữ. Khi mà chưa được quan tâm và để ý tạo điều kiện sáng tác cũng như trưng bày. Liệu có chỗ nào cho chúng tôi thuê với giá rẻ để cất giữ những tác phẩm của mình sau triển lãm hay không? Một kho bãi ven đô hay một kho trống của quân đội chẳng hạn…?”.
Được biết để chuẩn bị cho một cuộc trưng bày như vậy người họa sĩ phải bỏ tiền túi khoảng 10.000 USD cho việc thuê mặt bằng trưng bày, tổ chức PR, in ấn, quay phim lưu trữ,… không tính đến chi phí hoàn thành tác phẩm cũng như lao động sáng tác của họa sĩ.
Hằng cho biết “Người trong nghề bọn tôi, khi nhìn thấy những tác phẩm của bạn bè triễn lãm thường hỏi nhau, xong rồi, mang đi đâu? Tuy vậy, chúng tôi vẫn theo đuổi con đường nghệ thuật của mình, làm nhiều việc khác để lấy tiền trưng bày tác phẩm thị giác như vẽ tranh, thiết kế trang trí,… vì đó là nhu cầu và cuộc sống của nghệ sĩ chúng tôi.”
Mảng tài trợ và bảo trợ nghệ thuật còn thiếu ở nước ta mặc dù văn hoá quần chúng còn thấp và chưa quan tâm đến nghệ thuật đúng mức. Thực vậy tài trợ cho nghệ thuật nói chung là một việc làm còn thiếu ở các doanh nghiệp Việt Nam và cả trong các quy định của nhà nước. Người ta có thể bỏ ra hàng trăm triệu đồng tài trợ cho một chương trình thời trang, ca nhạc nhưng không ai đi mua các tác phẩm nghệ thuật để bày trong doanh nghiệp mình, để tặng cho bảo tàng, hoặc tài trợ cho một nghệ sỹ trẻ, và ngay cả khi họ làm vậy, họ cũng không hề được miễn hay giảm thuế.
Trong khi đó, các hoạt động như thế này rất phổ biến tại các nước như Pháp, Đức và đặc biệt là Mỹ. Tại Mỹ, bảo trợ nghệ thuật và từ thiện đã mang lại cho lĩnh vực phi lợi nhuận khoảng 10 tỷ Euros năm 2002 chiếm khoảng 2,1% GDP với khoảng 100 000 quỹ được thống kê . Tại Pháp, bảo trợ nghệ thuật, từ thiện và môi trường huy động được 343 triệu euros năm 2002, tức 0,09% GDP với hơn 1060 doanh nghiệp tham gia. Các hình thức bảo trợ cũng rất đa dạng (hỗ trợ về kỹ thuật và nghiệp vụ, công nghệ, sức khỏe, truyền thông, cho mượn người, mượn nơi triển lãm, cho ý tưởng…). Đã đến lúc các doanh nghiệp lớn của Việt Nam nghĩ tới việc làm này. Đó có thể là các tập đoàn công ty lớn như : Vietnam Airlines, Petrolimex, Viettien, VNPT, FPT...hay những công ty lữ hành du lịch. Thay vì đổ hàng tỷ đồng vào tài trợ – quảng cáo, họ có thể bỏ ra một phần tiền trong đó để bảo trợ mỹ thuật. Sự tham gia của các doanh nghiệp vào lĩnh vực này chắc chắn sẽ mang lại một sức đẩy không nhỏ cho ngành Mỹ thuật ở Việt Nam.
Chỉ trước đó vài ngày, tác phẩm Tảng đá đó được giới truyền thông ca tụng là … Hơn 700 bóng đèn nhỏ được luồn từ dưới những tảng đá, ngoi lên và toả sáng lấp lánh như những viên ngọc trai khổng lồ. Dù rất sáng và nóng khi lại gần nhưng người ta không cảm thấy ấm áp. Không khí bưng bức của cuộc chiến chen lấn và ham muốn về cuộc sống tự do, tự nhiên đang diễn ra giữa bê tông và ánh sáng trong sự tương phản về màu sắc gây choáng ngợp... Câu hỏi được đặt ra là đằng sau những cuộc trưng bày hoành tráng, công phu và nhiều lời ca tụng, những tác phẩm nghệ thuật đương đại không biết … về đâu?
Nghệ thuật thị giác liệu có bền hơi!?!
Hai, ba năm gần đây, sự xuất hiện dày đặc của những triển lãm trưng bày tác phẩm theo xu hướng nghệ thuật sắp đặt hay thị giác,… đã khiến chúng dần trở nên quen thuộc đối với công chúng Việt Nam ở các thành phố lớn. Sự lạ mắt, kỳ dị hay đẹp lạ lùng của các tác phẩm cũng ít nhiều mê hoặc và làm người xem suy nghĩ cũng như tìm hiểu về loại hình mới này. Trong khi giới phê bình và hoạ sĩ có những quan niệm và đánh giá khác nhau: dè chừng, phê phán, khen ngợi,… thì càng ngày, những triển lãm và trưng bày chuyên nghiệp, quy mô của những hoạ sĩ được đào tạo bài bản, có nhiều trải nghiệm giao lưu quốc tế đã phần nào khẳng định nghệ thuật thị giác, hay sắp đặt…thực sự là một phương thức biểu đạt cảm xúc, cảm hứng mới đầy hiệu quả cho phép người nghệ sĩ thăng hoa trí tưởng tượng nhờ sự phóng túng trong sử dụng chất liệu, không gian và hình thể. Và rõ ràng, ngoài toan và những mảng màu, hoạ sĩ còn có thể sáng tạo những tác phẩm bằng những chất liệu khác nhau và xây dựng những không gian riêng cho tác phẩm của mình.
Hiện nay, nghệ thuật thị giác khá thu hút giới hoạ sĩ trẻ Việt Nam song theo đuổi nó quả là một thách thức lớn. Song, Nghệ thuật thị giác mới chỉ dừng lại như những liveshow đối với người hoạ sĩ. Phần nhiều phụ thuộc dự án tài trợ, những nghệ sĩ giàu có hơn thì lâu lâu làm một cuộc trưng bày chung cho vui. Ba bốn năm trước, sự thực đã có một số cuộc trưng bày cá nhân chuyên nghiệp và gây được cảm tình cũng như ấn tượng lớn đối với người xem như Bốn Mùa của Đào Châu Hải, Giang của Lý Trần Quỳnh Giang hay Một Bọn của Nguyễn Thuý Hằng, Bụi, xe mờ bóng phố của Bằng Nhật Linh
...
Sáng tác xong rồi tác phẩm bày đâu?
Để chuẩn bị cho một cuộc trưng bày cá nhân được đánh giá cao như vậy, không tính đến những tác phẩm trưng bày gây được cảm xúc và hiệu ứng nghệ thuật mà người nghệ sĩ dày tài và dày công sáng tạo, thể hiện trong nhiều tháng, năm, sự đòi hỏi về mặt không gian và ánh sáng rất công phu cũng như những phương tiện kỹ thuật công nghệ hiện đại khác hỗ trợ như hệ thống ánh sáng, máy chiếu.
Khi quyết định làm một trưng bày cá nhân, hoạ sĩ thị giác thường phải tự lo từ a-z, từ khâu sáng tác đến công việc chuẩn bị triển lãm, đến mặt bằng trưng bày và sa xỉ hơn nữa là cất những tác phẩm dày công đó ở đâu.
Trước hết về không gian, theo cuaro Trần Lương, hiện nay ở Việt Nam không có một không gian nào đủ điều kiện hay tiêu chuẩn cho trưng bày nghệ thuật thị giác hay sắp đặt. Hiện có một không gian đạt tiêu chuẩn ấy lại không được sử dụng cho việc trưng bày mỹ thuật đương đại mặc dù người ta đã bỏ hàng tỷ đồng để xây dựng lên. Đó là khu “hội trường- lớp học” trong khuôn viên trường đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh. Từ khi được xây dựng đến nay chỉ một lần duy nhất được sử dụng đúng theo mục đích, còn sau đó trở thành những lớp học cho học viên của nhà trường.
Trường Đai học Mỹ thuật Hà Nội cũng khá mạnh dạn liên kết với một công ty tư nhân mở ra trung tâm Nghệ thuật Việt- Vietart, làm nơi trưng bày triển lãm nghệ thuật. Song hầu như tất cả các cuộc trưng bày nghệ thuật thị giác ở đây đều được giới phê bình và curao đánh giá là quá nhỏ, quá thấp,…Khổ nỗi, điều kiện có hạn, có còn hơn không. Một Vietart nhỏ, trưng bày các loại nghệ thuật chứ đâu dành riêng cho thị giác hay một loại hình mỹ thuật nào. Bà Minh Hà, giám đốc trung tâm cho biết: “Chúng tôi và Nhà trường cũng biết vậy và đã cố gắng hết sức, nhưng điều kiện có hạn, không gian này cũng đạt những tiêu chuẩn nhất định rồi. Mới hoạt động được hai năm, nhưng trung tâm chúng tôi không có ngày nào trống cả.”
Triển lãm xong rồi…tác phẩm để đâu?
Khi mà người ta chưa bỏ tiền mua những tác phẩm thị giác thì việc có một bảo tàng mỹ thuật đương đại, hay chí ít là nơi lưu giữ, bảo quản những tác phẩm mỹ thuật đương đại được đánh giá cao là chuyện sa xỉ.
Sau khi cuộc triển lãm khép lại, những lời ca tụng thành công gây hiệu ứng, báo chí ca tụng, công chúng trầm trồ,…thưa dần thì cũng là lúc hoạ sĩ đau đáu một nỗi niềm mới: đem những tác phẩm này đi đâu. Thật thảm thương cho cả tác phẩm và hoạ sĩ.
Ngay trong buổi khai mạc trưng bày tác phẩm “Một bọn”-Nguyễn Thuý Hằng đã than thở “Khi mà chưa có một nơi để trưng bày, lưu giữ. Khi mà chưa được quan tâm và để ý tạo điều kiện sáng tác cũng như trưng bày. Liệu có chỗ nào cho chúng tôi thuê với giá rẻ để cất giữ những tác phẩm của mình sau triển lãm hay không? Một kho bãi ven đô hay một kho trống của quân đội chẳng hạn…?”.
Được biết để chuẩn bị cho một cuộc trưng bày như vậy người họa sĩ phải bỏ tiền túi khoảng 10.000 USD cho việc thuê mặt bằng trưng bày, tổ chức PR, in ấn, quay phim lưu trữ,… không tính đến chi phí hoàn thành tác phẩm cũng như lao động sáng tác của họa sĩ.
Hằng cho biết “Người trong nghề bọn tôi, khi nhìn thấy những tác phẩm của bạn bè triễn lãm thường hỏi nhau, xong rồi, mang đi đâu? Tuy vậy, chúng tôi vẫn theo đuổi con đường nghệ thuật của mình, làm nhiều việc khác để lấy tiền trưng bày tác phẩm thị giác như vẽ tranh, thiết kế trang trí,… vì đó là nhu cầu và cuộc sống của nghệ sĩ chúng tôi.”
Mảng tài trợ và bảo trợ nghệ thuật còn thiếu ở nước ta mặc dù văn hoá quần chúng còn thấp và chưa quan tâm đến nghệ thuật đúng mức. Thực vậy tài trợ cho nghệ thuật nói chung là một việc làm còn thiếu ở các doanh nghiệp Việt Nam và cả trong các quy định của nhà nước. Người ta có thể bỏ ra hàng trăm triệu đồng tài trợ cho một chương trình thời trang, ca nhạc nhưng không ai đi mua các tác phẩm nghệ thuật để bày trong doanh nghiệp mình, để tặng cho bảo tàng, hoặc tài trợ cho một nghệ sỹ trẻ, và ngay cả khi họ làm vậy, họ cũng không hề được miễn hay giảm thuế.
Trong khi đó, các hoạt động như thế này rất phổ biến tại các nước như Pháp, Đức và đặc biệt là Mỹ. Tại Mỹ, bảo trợ nghệ thuật và từ thiện đã mang lại cho lĩnh vực phi lợi nhuận khoảng 10 tỷ Euros năm 2002 chiếm khoảng 2,1% GDP với khoảng 100 000 quỹ được thống kê . Tại Pháp, bảo trợ nghệ thuật, từ thiện và môi trường huy động được 343 triệu euros năm 2002, tức 0,09% GDP với hơn 1060 doanh nghiệp tham gia. Các hình thức bảo trợ cũng rất đa dạng (hỗ trợ về kỹ thuật và nghiệp vụ, công nghệ, sức khỏe, truyền thông, cho mượn người, mượn nơi triển lãm, cho ý tưởng…). Đã đến lúc các doanh nghiệp lớn của Việt Nam nghĩ tới việc làm này. Đó có thể là các tập đoàn công ty lớn như : Vietnam Airlines, Petrolimex, Viettien, VNPT, FPT...hay những công ty lữ hành du lịch. Thay vì đổ hàng tỷ đồng vào tài trợ – quảng cáo, họ có thể bỏ ra một phần tiền trong đó để bảo trợ mỹ thuật. Sự tham gia của các doanh nghiệp vào lĩnh vực này chắc chắn sẽ mang lại một sức đẩy không nhỏ cho ngành Mỹ thuật ở Việt Nam.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






